Skip to main content

Thẻ: web 3.0

Web3.0 có thể định hình lại thế giới

Khi ý thức về quyền sở hữu, quyền tự chủ đối với quyền riêng tư dữ liệu và danh tính kỹ thuật số ngày càng tăng, thì Web 3.0 dường như là một khái niệm hấp dẫn.

Web3.0 có thể định hình lại thế giới

Kể từ khi World Wide Web (WWW) ra đời vào những năm 1980, internet đã định nghĩa lại cách mọi người sống, làm việc và giải trí.

Ngày nay, internet thậm chí còn tạo ra sức mạnh cho nền kinh tế toàn cầu. Gần 4.000 tỉ giờ là lượng thời gian mà người dùng trên thế giới dành cho điện thoại di động trong năm 2021.

Mặc dù con số này nghe có vẻ không thể tưởng tượng được, nhưng không có gì ngạc nhiên khi chúng ta ngày càng phụ thuộc vào internet, đặc biệt trong thời gian dịch Covid-19 diễn ra.

Theo báo cáo State of Mobile 2022 của nền tảng dữ liệu App Annie, cứ 10 phút thì có 7 người dùng điện thoại cho các ứng dụng xã hội hoặc hình ảnh và video, chứng tỏ sức ảnh hưởng mạnh mẽ của Web 2.0.

Tuy nhiên, cho dù internet và Web 2.0 trở nên gần như không thể thay thế trong thế giới ngày nay, vấn đề xung quanh quyền riêng tư dữ liệu và sự cố hệ thống xuất hiện trong suốt hai thập niên qua đã dẫn đến sự bất bình ngày càng tăng, đặc biệt khi công chúng bắt đầu đặt câu hỏi về cách những gã khổng lồ công nghệ (Big Tech) sử dụng dữ liệu cá nhân của họ.

Web 3.0: tầm nhìn mới cho tương lai hay giấc mơ viển vông?

Theo ông Edward Chen, Giám đốc điều hành nhà cung cấp dịch vụ giao dịch tài sản kỹ thuật số Huobi Singapore, khi quyền riêng tư dữ liệu của công chúng bị Big Tech lạm dụng, yếu tố phân quyền và phi tập trung của Web3.0 đã trở nên hấp dẫn hơn bao giờ hết.

Dù vậy, các xu hướng Web 3.0 nổi bật như mã thông báo không thể thay thế (NFT) và metaverse cũng có rất nhiều vấn đề, bao gồm mối quan tâm về an ninh mạng hoặc sự phụ thuộc tiếp tục vào các hệ sinh thái tập trung.

Điều này đặt ra một câu hỏi rằng: liệu Web 3.0 có thể thực hiện đúng những lời hứa và lý tưởng của nó hay không? Được củng cố bởi công nghệ blockchain, Web 3.0 được định nghĩa là vòng lặp tiếp theo của internet, hứa hẹn về một hệ thống web độc lập, phi tập trung và tự trị hơn.

Một web mà quyền lực được trao lại cho số đông và sự phụ thuộc vào hệ sinh thái tập trung giảm đến mức tối thiểu.

Dữ liệu Web 3.0 sẽ được lưu trữ trên cơ sở dữ liệu phân tán nên không người dùng nào có toàn quyền kiểm soát. Đồng thời, Web 3.0 còn cho phép người dùng sở hữu dữ liệu của họ, bỏ qua bất kỳ bên trung gian nào cho mỗi phần dữ liệu được tạo ra.

Blockchain còn có tính bất biến, dữ liệu được nhập vào là không thể thay đổi và được ghi lại vĩnh viễn, giúp loại bỏ rủi ro về việc dữ liệu bị giả mạo, bị tấn công, bị gian lận.

Người dùng cũng có thể xem dữ liệu trên chuỗi công khai, điều này phá vỡ thế độc quyền của các nhà cung cấp bên thứ ba, các walled garden (khu vườn có tường bao quanh), thuật ngữ đề cập đến môi trường duyệt web độc quyền nơi người dùng bị giới hạn trong một số quy định công nghệ và dịch vụ nhất định, đồng thời tạo ra khả năng vô hạn cho người dùng kiếm tiền từ dữ liệu của họ.

Ngoài tính minh bạch và tính bất biến, công nghệ Web 3.0 dựa trên blockchain còn mang lại cho người dùng cảm giác sở hữu tốt hơn. Ví dụ, việc mua token hoặc tiền điện tử có thể cho phép người dùng có “cổ phần” (stake) trong mạng (network) hoặc trong giao thức truyền thông (protocol).

Chỉ cần sở hữu mã thông báo, người dùng sẽ có thể bỏ phiếu cho những quyết định liên quan đến giao thức. Nhờ vào cách này, người dùng có thể tham gia vào những dự án mà họ tin tưởng.

Web 3.0 liệu có phải chỉ là từ ngữ “tiếp thị thông dụng”?

Khi sự quan tâm đối với tiền điện tử và blockchain ngày càng tăng, Web 3.0 cũng bắt đầu nhận được sức hút lớn hơn trong cộng đồng.

Những người ủng hộ Web 3.0 ca ngợi nó là tương lai của internet. Trong khi đó, những người hoài nghi lại coi Web 3.0 không hơn gì một “từ tiếp thị thông dụng”.

Bất chấp quan điểm khác nhau, Web 3.0 và các công nghệ liên quan chắc chắn đã chứng kiến ​​nhiều trường hợp ứng dụng xuất hiện kể từ khi thuật ngữ này được nhà báo John Markoff của New York Times đưa ra lần đầu tiên vào năm 2006, và được phổ biến bởi đồng sáng lập Ethereum Gavin Wood. Có lẽ trường hợp sử dụng phổ biến nhất của Web 3.0 là trong lĩnh vực tiền điện tử và NFT.

Tuy nhiên, tiện ích của Web 3.0, hay nói mở rộng hơn là blockchain, vượt xa các loại tiền điện tử đơn thuần. Có thể thấy rõ điều này thông qua ứng dụng phi tập trung (dApps) có sẵn cho tài chính, nghệ thuật, sưu tầm và game, hoặc có thể nhìn vào cách những người sáng tạo nội dung kiếm tiền thông qua NFT.

Một khái niệm khắc gắn bó chặt chẽ với Web 3.0 là metaverse. Mặc dù phần lớn những gì đang xảy ra với metaverse cho đến nay chỉ giới hạn trong một số ngành công nghiệp thích hợp như NFT và GameFi.

Nhưng metaverse đã liên tục phát triển, nhận được sự quan tâm ngày càng tăng của các tác nhân chính, những công ty lớn muốn có phần trong sự phát triển đầy hứa hẹn này.

Không gian tài chính truyền thống cũng chứng kiến ​​sự thay đổi khi tài chính phi tập trung (DeFi) nổi lên. Bằng chứng là tổng giá trị bị khóa (total value locked – TVL) trong giao thức hợp đồng thông minh của DeFi tăng 1.200% chỉ trong năm 2021.

Là thành phần cốt lõi của Web 3.0, DeFi cho phép việc thực hiện giao dịch tài chính trong thế giới thực trên blockchain dễ dàng hơn, đồng thời mang lại khả năng bao quát về mặt tài chính cho những người vốn không quá quan tâm đến hệ sinh thái tài chính truyền thống.

Big Tech và Blockchain: động lực giữa Web 2.0 và Web 3.0

Bất chấp tiềm năng trong việc vượt qua hệ sinh thái walled garden và đưa “quyền lực” trở về tay người dùng, Web 3.0 gặp phải không ít chỉ trích.

Ví dụ, quyền sở hữu của nhiều mạng blockchain trên thực tế là không công bằng trong việc phân phối, hoặc nhiều giao thức trong số này coi quyền sở hữu tập trung nằm ở phía những người tham gia sớm hoặc được hỗ trợ bởi các khoản đầu tư mạo hiểm, nghĩa là trên thực tế quyền lực có khả năng vẫn nằm trong tay một số ít.

Ngoài ra, việc những hãng công nghệ khổng lồ như Meta và Microsoft tham gia vào cuộc cạnh tranh Web 3.0 cũng làm dấy lên lo ngại rằng Web 3.0 chỉ đơn giản là một walled garden khác.

Tóm lại, giống như cách Web 2.0 được xây dựng dựa trên nền tảng Web 1.0, chúng ta có thể thấy Web 3.0 cũng đang được xây dựng dựa trên những lần lặp lại trước đó của internet.

Web 3.0 sẽ tiếp tục phát triển và định hình lại thế giới như thế nào vẫn là điều đang được quan sát. Tuy nhiên, điều chắc chắn là số đông sẽ có tiếng nói lớn hơn trong việc xây dựng Web 3.0 vì tương lai của internet là phi tập trung.

Tham gia Cộng đồng We’re Marketer để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: Link

Nam Nguyen

Web 3.0 – Những ảnh hưởng đến ngành Marketing và Quảng cáo

Mặc dù “web 3.0” chưa có định nghĩa cụ thể, và có ý kiến cho rằng Semantic Web chỉ là một trong một số công nghệ và xu hướng hội tụ sẽ xác định Web 3.0. Tuy nhiên hiện nay, Semantic Web được xem là một định nghĩa phổ biến của Web 3.0.

Web 3.0 và ảnh hưởng của nó đến ngành Marketing
Source: Business Quick

Web 1.0.

Internet ban đầu được dựa trên phiên bản gọi là Web 1.0. Thuật ngữ này được đặt tên lần đầu vào năm 1999 bởi tác giả và nhà thiết kế web Darcy DiNucci, một chuyên viên tư vấn về thiết kế hệ thống thông tin.

Vào đầu những năm 1990, các trang web được xây dựng bằng các trang web tĩnh – văn bản và các trang web được liên kết với nhau để và được dùng để làm cổng thông tin như một thư viện, người dùng chỉ có thể đọc dữ liệu, không thể trao đổi trực tiếp với nhà xuất bản thông tin (Tim Berners-Lee, năm 1999).

Các dịch vụ thư mục cũ, như Altavista, Yahoo! Cổng thông tin Web là một ví dụ về Web 1.0, cũng như một số công cụ phát triển Web cơ bản (Ví dụ: trình soạn thảo HTML), Mosaic (trình duyệt web).

Web 2.0.

Vào cuối thập niên 1990, khi Internet bắt đầu được thay đổi để trở nên tương tác hơn, khái niệm web 2.0 ra đời. Với Web 2.0, người dùng có thể tương tác với các trang web bằng cách sử dụng các cơ sở dữ liệu, thao tác xử lý phía máy chủ, các biểu mẫu và phương tiện truyền thông xã hội.

Điều này đã đem đến sự thay đổi từ mạng tĩnh sang mạng năng động hơn. Web 2.0 chú ý nhiều hơn đến các nội dung do người dùng tạo ra và khả năng tương tác giữa các trang web và ứng dụng.

Web 2.0 khuyến khích sự tham gia của người dùng, thay vì việc họ chỉ là khán giả để đọc và xem. Vào giữa những năm 2000, hầu hết các trang web đã thực hiện chuyển đổi sang Web 2.0.

Ví dụ: Quora, Facebook, Twitter, Google+, Pinterest, Reddit và các nền tảng phát video như Youtube, Vimeo, v.v.

Web 3.0.

Sự phát triển nhanh chóng của Internet khiến các trang mạng trở nên thông minh so với phiên bản của chúng lúc trước. Đầu tiên, dữ liệu được trình bày dưới dạng tĩnh cho người dùng. Sau đó, người dùng có thể tương tác với dữ liệu đó một cách linh hoạt.

Và các thuật toán sẽ sử dụng tất cả dữ liệu đó để cải thiện trải nghiệm người dùng và làm cho trang mạng trở nên cá nhân hóa và quen thuộc hơn.

Thuật ngữ web 3.0 lần đầu được phát triển vào năm 2006, bởi nhà báo John Markoff của The New York Times. Ông nhấn mạnh đây là một cuộc cách mạng mới của lịch sử web, là thế hệ web thứ 3, và bao gồm những cải tiến và thực hiện cụ thể.

Mặc dù chưa được xác định đầy đủ, nhưng Web 3.0 có thể sử dụng các công nghệ ngang hàng (P2P) như blockchain, phần mềm nguồn mở, thực tế ảo, Internet kết nối vạn vật (IoT) và hơn thế nữa.

Hiện tại, nhiều ứng dụng chỉ được chạy trên một hệ điều hành. Web 3.0 có thể khiến các ứng dụng không cần phụ thuộc vào thiết bị hơn, nghĩa là chúng sẽ có thể chạy trên nhiều loại phần cứng và phần mềm khác nhau mà không tốn thêm chi phí phát triển. Web 3.0 cũng làm cho Internet trở nên cởi mở và phi tập trung hơn.

Ngày nay, người dùng phải dựa vào các nhà cung cấp mạng và mạng di động và các nhà cung cấp này có thể dõi thông tin đi qua hệ thống của họ. Với sự ra đời của các công nghệ sổ cái phân tán, điều đó sẽ sớm thay đổi và người dùng có thể lấy lại quyền sở hữu dữ liệu của họ.

Ví dụ của Web 3.0:

Apple Siri là một ví dụ điển hình của Web 3.0. Bằng việc sử dụng công nghệ nhận diện giọng nói và trí tuệ nhân tạo để ghi nhớ những yêu cầu, hành vi, thói quen của người sở hữu, từ đó giúp Siri đưa ra những đề xuất đúng đắn và phù hợp cho người sử dụng.

Hỗ trợ khách hàng tốt hơn.

Dịch vụ khách hàng là chìa khóa cho trải nghiệm người dùng mượt mà. Tuy nhiên, do chi phí lớn, nhiều doanh nghiệp không thể mở rộng quy mô hoạt động dịch vụ khách hàng của họ.

Thông qua việc sử dụng các chatbot – một chương trình máy tính mô phỏng cuộc trò chuyện thông minh với con người trực tuyến (thông qua văn bản hoặc giọng nói), người làm kinh doanh và marketing có thể trò chuyện, tư vấn với nhiều khách hàng cùng một lúc.

Nhờ vào việc áp dụng trí thông minh nhân tạo (AI) và công nghệ, các trải nghiệm khách hàng được cải thiện vượt trội và trở nên cá nhân hoá hơn.

Quảng cáo và Marketing hiệu quả hơn.

Đối với các chủ doanh nghiệp, khả năng quảng cáo và marketing cho khách hàng tiềm năng với công nghệ Web 3.0 là vô hạn.

Ngày nay, có rất nhiều người sử dụng điện thoại thông minh để nghe radio, xem chương trình TV, tìm kiếm trên internet, mua sắm và trò chuyện với bạn bè. Và chủ doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận khách hàng mục tiêu mọi lúc mọi nơi bằng việc quảng cáo trực tiếp trên điện thoại của họ.

Một sự thật hiển nhiên là không khách hàng nào muốn bị gửi quá nhiều quảng cáo trực tuyến. Tuy nhiên nếu quảng cáo nhắm đúng đối tượng, phù hợp với những sở thích và nhu cầu của một người nào đó thì chúng có thể rất hữu ích thay vì làm phiền.

Web 3.0 cải thiện quảng cáo bằng cách tận dụng các hệ thống AI thông minh và bằng cách hướng mục tiêu các đối tượng cụ thể dựa trên dữ liệu của người tiêu dùng.

Giúp khách hàng có thể chọn lựa những sản phẩm và dịch vụ phù hợp nhất với kế hoạch sử dụng của họ, sở thích của họ và với đối tượng họ dùng chung.

Chi phí để xuất bản nội dung và quảng cáo trong môi trường Web 3.0 thấp hơn đáng kể so với việc cố gắng có một lượng tiếp cận hữu ích tương đương trên các kênh truyền thông truyền thống

Nghiên cứu thị trường và phân khúc khách hàng dễ hơn.

Các web 3.0 có tính đồng bộ hóa cao giữa các web với nhau. Khách hàng khi truy cập vào một trang web hay app, họ có thể đăng nhập bằng Facebook ngay lúc đó.

Các app tin tức cũng có thể truy vấn dữ liệu thời tiết từ Yahoo một cách dễ dàng mà không cần phải tự đi tìm hay thu thập các dữ liệu phức tạp hay Dropbox có thể được tích hợp nhanh với Microsoft Office,..

Rộng hơn đó chính là thế giới của Internet of Things (IoT), nơi mà mọi thiết bị đều được kết nối vào Internet. Điều này đem lại lợi ích to lớn cho các chủ doanh nghiệp trong các cách nghiên cứu thị trường và phân khúc nâng cao.

Các chương trình máy tính hiện đã đủ tiên tiến để tham khảo chéo, kết nối, xử lý và hợp nhất thông tin từ các nguồn khác nhau để xác định các mẫu cho lưu lượng truy cập web, mẫu mua sắm, xu hướng mới nổi của người tiêu dùng.

Điều này giúp cho chủ sở hữu doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận đối tượng mục tiêu của mình hơn bằng cách tiết kiệm chi phí hơn và với dữ liệu nâng cao về thói quen duyệt web, việc tạo ra các thông điệp sẽ tạo được sức ảnh hưởng với khách hàng tiềm năng sẽ trở nên dễ dàng hơn. Một ví dụ về loại web ngữ nghĩa này có thể được nhìn thấy trong “Đồ thị mở của Facebook”.

Tính năng tìm kiếm đồ thị cho phép người dùng trên mạng tìm thấy thông tin có giá trị về đối tượng mục tiêu của họ như thế nào và thông tin đó có thể được sử dụng để tiếp cận những người là đối tượng mục tiêu cho một tổ chức thích hợp.

Điều này làm giảm đáng kể chi phí khởi nghiệp cho các doanh nghiệp mới, khuyến khích tạo ra doanh nghiệp nhỏ và giúp nhiều doanh nghiệp thành công.

Khả năng chia sẻ dữ liệu cao.

Khi chuyển dữ liệu từ một trang web này hay web khác, các lập trình viên không cần phải tốn quá nhiều công sức viết ra những công cụ để đọc dữ liệu, họ chỉ cần thông báo cho bên kia biết rằng họ gửi dữ liệu gì qua và bên kia chỉ cần viết các phần mềm tương ứng để đọc đúng những thứ đó là được.

Quá trình tìm kiếm thông tin dễ dàng và cho ra kết quả chính xác hơn.

Sự trao đổi thông tin của Web 3.0 còn giúp quá trình tìm kiếm thông tin của người dùng trên Internet dễ dàng, hiệu quả hơn và trả về đúng các thông tin liên quan đến những từ khóa được tìm kiếm.

Đó là do các website sử dụng dữ liệu theo định dạng chuẩn, và những bộ máy như Google Search, Bing Search, Yahoo Search chỉ việc đọc dữ liệu đó để phân tích và ghi nhớ, không cần phải đi xuyên qua những file HTML phức tạp và không theo cấu trúc nhất định như trước đây.

Khi được áp dụng cho các website thương mại, các doanh nghiệp hiện nay có thể đưa thông tin bổ sung vào mô tả sản phẩm và quảng cáo trực tuyến để giúp công cụ tìm kiếm dễ dàng tìm thấy hơn.

Best Buy luôn đi đầu trong việc sử dụng công nghệ này để thúc đẩy các nỗ lực thương mại điện tử của mình. Nó đang sử dụng RDFa (RDF trong các thuộc tính, thêm một bộ đánh dấu thuộc tính XHTML) và từ ngữ mối quan hệ tốt để tạo ra kết quả tìm kiếm rộng cho người mua hàng đang tìm kiếm sản phẩm. Cho đến nay,biện pháp này đã giúp công ty tăng lưu lượng truy cập lên 30%.

Dữ liệu hiển thị theo thời gian thực.

Web 3.0 sẽ giúp dữ liệu được hiển thị theo thời gian thực một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn. Chúng ta sẽ có nhiều những ứng dụng dành cho kinh doanh, giáo dục, bán lẻ, kho bãi… với thông tin được cập nhật từng phút từng giây mà không phải load lại cả trang web.

Nói chung là các luồng dữ liệu sẽ đi vào đi ra liên tục mang cho bạn những thông tin mới nhất, đáng giá nhất.

Tham gia Cộng đồng We’re Marketer để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: Link

Nam Nguyen