Skip to main content

Thẻ: GDP

Cục Phân tích Kinh tế Mỹ: Nền kinh tế Mỹ hiện đang tích cực hơn so với kỳ vọng

So với báo cáo ban đầu, nền kinh tế Mỹ thực chất đã tăng trưởng với tốc độ mạnh hơn một chút trong quý II vừa qua. Chi tiêu của người tiêu dùng được điều chỉnh tăng, giúp bù đắp cho sự suy yếu ở các khoản mục khác.

Cụ thể, theo số liệu do Cục Phân tích Kinh tế Mỹ công bố hôm 29/8, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trưởng 3% trong quý II (tốc độ đã chuẩn hoá theo năm), cao hơn so với ước tính trước đó là 2,8%.

Động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế – chi tiêu cá nhân – tăng 2,9%, cao hơn ước tính ban đầu là 2,3%.

Một thước đo quan trọng khác về hoạt động kinh tế – tổng thu nhập quốc nội (GDI) – tăng 1,3%, tương đương kết quả trong quý đầu năm.

Trong khi GDP đo lường chi tiêu cho hàng hoá và dịch vụ, GDI đo lường thu nhập mà người dân tạo ra và chi phí phát sinh từ việc sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đó, Bloomberg giải thích.

Một báo cáo khác do chính phủ Mỹ công bố vào cùng ngày cho thấy số đơn xin nhận trợ cấp thất nghiệp lần đầu không thay đổi nhiều, đạt 231.000 hồ sơ.

Báo cáo hồi tuần trước của Bộ Lao động Mỹ tiết lộ thị trường việc làm có thể đang tiếp tục yếu đi.

So với dữ liệu ban đầu, tổng số việc làm mà Mỹ tạo ra trong giai đoạn tháng 4/2023 – 3/2024 đã giảm 818.000. Nói cách khác, các doanh nghiệp chỉ tạo thêm trung bình 178.000 việc làm mỗi tháng, trái ngược với ước tính cũ là 246.000.

Sau khi tăng tốc vào nửa cuối năm ngoái, tăng trưởng kinh tế đã hạ nhiệt trong năm nay. Các nhà phân tích dự đoán tăng trưởng sẽ tiếp tục điều chỉnh trong nửa cuối năm khi chi phí đi vay tăng cao tiếp tục đè nặng lên nền kinh tế.

Mặt khác, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được kỳ vọng sẽ bắt đầu hạ lãi suất vào tháng 9 khi lạm phát giảm nhiệt. Điều này có thể giúp ích cho các lĩnh vực bị ảnh hưởng bởi chi phí đi vay như nhà ở và sản xuất.

Chi tiêu tiêu dùng được điều chỉnh tăng cho thấy người Mỹ đã chi tiền nhiều hơn cho hàng hoá và dịch vụ. Chi tiêu cho chăm sóc sức khoẻ, nhà ở, tiện ích và giải trí là các khoản mục dẫn đầu.

Tuy nhiên, Cục Phân tích Kinh tế Mỹ đã điều chỉnh giảm các khoản mục gồm chi tiêu của doanh nghiệp, hàng tồn kho, xuất khẩu ròng, đầu tư nhà ở và chi tiêu của chính phủ.

Về mặt lạm phát, thước đo ưa thích của Fed là chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCEPI) tăng 2,5%, giảm nhẹ so với ước tính ban đầu. Nếu loại trừ giá năng lượng và thực phẩm dễ biến động, PCEPI lõi tăng 2,8%, thấp hơn ước tính trước đó là 2,9%.

Hiện tại, các nhà đầu tư đang chờ đón báo cáo PCEPI tháng 7, dự kiến sẽ công bố vào đầu ngày 30/8 (tức khoảng 19h30 cùng ngày theo giờ Việt Nam). Theo dự đoán của các nhà kinh tế, PCEPI lõi có thể đã tăng 2,7% so với cùng kỳ năm ngoái vào tháng 7.

Gần đây, các quan chức Fed cho biết họ đang tập trung nhiều hơn vào thị trường việc làm – một trong hai nhiệm vụ chính của ngân hàng trung ương Mỹ bên cạnh lạm phát – trong bối cảnh áp lực giá nhìn chung đã dịu bớt.

Tuần trước, phát biểu tại hội nghị Jackson Hole, Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết “đã đến lúc” các quan chức nên điều chỉnh chính sách tiền tệ. Ông lưu ý Fed không “tìm kiếm hay hoan nghênh việc các điều kiện trên thị trường lao động tiếp tục yếu đi”.

Sau Microsoft, Google rót 2 tỷ USD xây trung tâm dữ liệu tại Malaysia

Malaysia đang là điểm đến của nhiều ông lớn công nghệ, sau Microsoft, Apple, Nvidia đến lượt Google đầu tư hai tỷ USD xây trung tâm dữ liệu.

Google cắt giảm nhân sự mảng 'hướng dẫn tìm kiếm'

Theo công bố của Google ngày 30/5, số tiền được dùng để xây trung tâm dữ liệu và đám mây đầu tiên tại Malaysia trong bối cảnh nhu cầu AI và Cloud tăng lên, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là khoản đầu tư lớn nhất của hãng tại Malaysia trong 13 năm hoạt động ở đây.

“Khoản đầu tư được đưa ra dựa trên mối quan hệ hợp tác với chính phủ Malaysia nhằm thúc đẩy ‘chính sách ưu tiên đám mây’, gồm các tiêu chuẩn an ninh mạng tốt nhất”, Ruth Porat, Phó chủ tịch kiêm giám đốc tài chính Alphabet, cho biết.

Theo bà Porat, trung tâm khi đưa vào vận hành sẽ phục vụ các dịch vụ kỹ thuật số của Google, như Search, Maps và Workspace, cũng như cung cấp dịch vụ đám mây cho công ty và tổ chức trong khu vực công và tư nhân. Hệ thống cũng phục vụ chương trình “xóa mù AI” cho dành cho sinh viên và nhà giáo dục.

Dự kiến, trung tâm được đặt tại Elmina, miền trung bang Selangor. Google chưa thông báo thời gian xây dựng và vận hành. Tuy nhiên, công ty ước tính sẽ đóng góp hơn 3,2 tỷ USD vào GDP của Malaysia và hỗ trợ 26.500 việc làm tại đây vào năm 2030.

“Khoản đầu tư của Google sẽ thúc đẩy đáng kể tham vọng kỹ thuật số đã được đưa ra trong Kế hoạch tổng thể công nghiệp mới 2030 của quốc gia chúng tôi”, Tengku Datuk Seri Utama Zafrul Aziz, Bộ trưởng Bộ Đầu tư, Thương mại và Công nghiệp Malaysia, cho biết.

Nước này hiện là điểm đến của nhiều công ty công nghệ toàn cầu. Đầu tháng, Microsoft đầu tư 2,2 tỷ USD để phát triển cơ sở hạ tầng đám mây và AI mới. Tháng 12 năm ngoái, tập đoàn YT của Malaysia tuyên bố sẽ bắt tay với Nvidia xây dựng cơ sở hạ tầng AI trị giá 4,3 tỷ USD.

Ngày 28/5, Apple thông báo mở Apple Store tại Malaysia. Cửa hàng được đặt trong tổ hợp trung tâm thương mại The Exchange TRX ở Kuala Lumpur, khai trương ngày 22/6. Đây là thị trường thứ ba ở Đông Nam Á có cửa hàng chính thức của Apple, sau Singapore, Thái Lan.

Trong khi đó, phía Malaysia cũng nỗ lực đầu tư vào nguồn lực trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu về lao động. Tại Triển lãm công nghiệp bán dẫn Đông Nam Á 2024 (SEMICON SEA) ở Kular Lumpur ngày 28/5, Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim công bố Chiến lược bán dẫn quốc gia, trong đó chính phủ đầu tư ít nhất 5,33 tỷ USD trong vòng 5-10 năm để bồi dưỡng nhân tài và phát triển công ty địa phương. Nước này đặt mục tiêu đào tạo 60.000 kỹ sư trong mọi lĩnh vực của ngành công nghệ bán dẫn như thiết kế, đóng gói, kiểm thử.

Special Offer từ MarketingTrips:

  • Tham khảo giải pháp Agency Listing từ MarketingTrips: Agency Networks
  • Đăng bài không giới hạn trên MarketingTrips với chi phí chỉ bằng 1 bài đăng (Booking): Content Partner
  • Đăng ký (dành cho Agency): Sign up

Tham gia Cộng đồng We’re Marketer của MarketingTrips (Trang tin tức trực tuyến về Marketing, Digital Marketing, Thương hiệu, Quảng cáo và Kinh doanh) để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: We’re Marketer

Nhật Bản lại tăng trưởng âm

Sau một quý tăng trưởng, GDP Nhật Bản giảm trở lại trong 3 tháng đầu năm nay, chủ yếu do tiêu dùng nội địa yếu.

Sáng 16/5, Văn phòng Nội các Nhật Bản công bố số liệu sơ bộ cho thấy GDP nước này giảm 2% trong quý I. Tốc độ này cao hơn dự báo của các nhà kinh tế học trong khảo sát của Reuters.

So với quý cuối năm 2023, GDP Nhật Bản giảm 0,5%. Tăng trưởng quý IV/2023 cũng được điều chỉnh về gần 0%, thay vì tăng 0,4% như ước tính trước đó.

Tiêu dùng, vốn chiếm hơn nửa nền kinh tế Nhật Bản, giảm 0,7% trong quý I. Đây là quý thứ tư liên tiếp tiêu dùng đi xuống – dài nhất kể từ năm 2009. Việc người dân ngại chi tiêu cũng là lý do chính khiến GDP Nhật Bản giảm trong quý III/2023.

Chi tiêu của doanh nghiệp giảm 0,8% trong quý I. Xuất khẩu ròng giảm 0,3%, cho thấy nhu cầu bên ngoài yếu.

“Kinh tế Nhật Bản đã chạm đáy trong quý I. GDP sẽ bật lại quý này, nhờ lương tăng, dù tiêu dùng trong lĩnh vực dịch vụ vẫn còn nhiều bất ổn”, Yoshimasa Maruyama – nhà kinh tế học tại SMBC Nikko nhận định.

Giới chức Nhật Bản kỳ vọng việc được tăng lương và giảm thuế thu nhập (bắt đầu từ tháng 6) sẽ giúp tiêu dùng tăng trở lại. Hôm 15/3, các công ty lớn nhất Nhật Bản đã đồng ý nâng lương cho người lao động thêm 5,28% trong năm 2024. Đây là mức tăng mạnh nhất trong 33 năm qua.

Dù vậy, việc giá yen thấp nhất 34 năm so với USD cũng làm tăng lo ngại rằng chi phí sinh hoạt cao sẽ bóp nghẹt tiêu dùng. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) đã chấm dứt chính sách lãi suất âm hồi tháng 3, nhưng vẫn chần chừ tăng lãi thêm, do nền kinh tế còn dễ tổn thương. Lãi suất âm là lý do chính khiến yen mất giá vài năm qua.

Special Offer từ MarketingTrips:

  • Tham khảo giải pháp Agency Listing từ MarketingTrips: Agency Networks
  • Đăng bài không giới hạn trên MarketingTrips với chi phí chỉ bằng 1 bài đăng (Booking): Content Partner
  • Đăng ký (dành cho Agency): Sign up

Tham gia Cộng đồng We’re Marketer của MarketingTrips (Trang tin tức trực tuyến về Marketing, Digital Marketing, Thương hiệu, Quảng cáo và Kinh doanh) để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: We’re Marketer

Theo VnExpress

UOB dự báo GDP Việt Nam quý I đạt 5,5%

UOB dự báo kinh tế Việt Nam quý I tích cực hơn cùng kỳ năm ngoái, với tăng trưởng 5,5% và VND vẫn còn khả năng phục hồi nhẹ.

Dự báo được nêu trong Báo cáo dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam quý I/2024 vừa phát hành của Ngân hàng UOB. Như vậy, tình hình đầu năm nay dự kiến tích cực hơn quý I/2023 khi GDP tăng 3,32%, theo số liệu của Bộ Kế hoạch – Đầu tư.

Ngân hàng Singapore này lý giải trong khi rủi ro từ các sự kiện xung đột bên ngoài tiếp tục đè nặng lên kinh tế toàn cầu, triển vọng của Việt Nam được củng cố nhờ sự phục hồi của ngành bán dẫn, tăng trưởng ổn định ở Trung Quốc và khu vực, cũng như sự dịch chuyển chuỗi cung ứng có lợi cho Việt Nam và Đông Nam Á.

Ví dụ, dữ liệu của Tổng cục Thống kê cho hay tổng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam trong 2 tháng đầu năm đạt gần 4,29 tỷ USD, tăng 38,6% so với cùng kỳ 2023. Kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tăng 18,6%, riêng xuất khẩu đạt gần 60 tỷ USD, tăng 19,2%.

Trong nước, hoạt động dịch vụ tiêu dùng 2 tháng đầu sôi động và tăng cao so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 5,7%, riêng ngành chế biến – chế tạo tăng 5,9%. Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 1 và 2 đều trên 50, so với mức trung bình 49,3 của cùng kỳ 2023. Mốc trên 50 ghi nhận sản xuất đang mở rộng.

Theo UOB, động lực chung trong lĩnh vực sản xuất và thương mại bên ngoài đang có những dấu hiệu tích cực, đặc biệt trong nửa cuối năm 2024. Đó là giai đoạn phục hồi trong lĩnh vực bán dẫn sẽ vững chắc hơn và các ngân hàng trung ương toàn cầu bắt đầu vận hành chính sách lãi suất phù hợp hơn.

Vì vậy, các chuyên gia ngân hàng này duy trì dự báo tăng trưởng 2024 của Việt Nam ở mức 6%, nằm trong mục tiêu chính thức 6-6,5%. Áp lực lạm phát tiếp tục tăng với CPI toàn phần sẽ tăng lên mức 3,8% năm nay, từ 3,25% năm ngoái. Ngân hàng Nhà nước có thể tiếp tục giữ lãi suất điều hành ổn định năm nay.

Liên quan đến thị trường tiền tệ, sau khi giao dịch USD/VND đã lên mức cao mới 24.700 đồng vào cuối tháng 2 cùng với sự mạnh lên đáng kể của USD so với các đồng tiền châu Á, UOB cho rằng VND vẫn có khả năng phục hồi nhẹ.

“Bất chấp sự suy yếu trong ngắn hạn của VND, kỳ vọng về tốc độ tăng trưởng GDP mạnh hơn ở Việt Nam và đà phục hồi trong lĩnh vực sản xuất, ngoại thương là những yếu tố tích cực có thể giúp ổn định tiền đồng”, ngân hàng này nhận định.

Special Offer từ MarketingTrips:

  • Tham khảo giải pháp Agency Listing từ MarketingTrips: Agency Networks
  • Đăng bài không giới hạn trên MarketingTrips với chi phí chỉ bằng 1 bài đăng (Booking): Content Partner
  • Đăng ký (dành cho Agency): Sign up

Tham gia Cộng đồng We’re Marketer của MarketingTrips (Trang tin tức trực tuyến về Marketing, Digital Marketing, Thương hiệu, Quảng cáo và Kinh doanh) để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: We’re Marketer

Theo VnExpress

Trung Quốc lạc quan với mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2024

Trung Quốc vừa công bố mục tiêu tăng trưởng GDP và các chỉ số kinh tế khác trong lễ khai mạc Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc.

Trung Quốc đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2024 khoảng 5%
Trung Quốc đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2024 khoảng 5%

Theo đưa tin từ CNBC, Bắc Kinh đã công bố mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2024 và các chỉ số kinh tế khác trong lễ khai mạc Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc (hay phiên họp Quốc hội) vào ngày 5/3.

Cụ thể, báo cáo công tác chính phủ cho thấy nước này đặt mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2024 ở mức “khoảng 5%”. Đồng thời, Trung Quốc đặt mục tiêu lạm phát giá tiêu dùng ở mức 3%, tỷ lệ thất nghiệp cho cư dân thành thị ở mức 5,5% và dự định tạo thêm khoảng 12 triệu việc làm mới ở các đô thị.

Năm ngoái, nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng 5,2%, phù hợp với mục tiêu đặt ra là “khoảng 5%”. Quá trình phục hồi kinh tế sau đại dịch diễn ra chậm hơn so với kỳ vọng của nhiều người, đồng thời tăng trưởng cũng bị cản trở bởi rắc rối trong lĩnh vực bất động sản và xuất khẩu.

Mục tiêu tăng trưởng năm nay cũng tương tự như dự báo của nhiều chuyên gia. Các nhà kinh tế còn kỳ vọng chính phủ Trung Quốc sẽ tăng tỷ lệ thâm hụt tài khóa chính thức lên trên 3%, tờ CNBC cho biết.

Giới đầu tư sẽ phân tích kỹ lưỡng báo cáo công tác và bình luận của chính phủ để tìm kiếm manh mối về chính sách hỗ trợ dành cho lĩnh vực bất động sản và những bộ phận khác của nền kinh tế.

Tổng cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc cho biết năm ngoái, tỷ lệ thất nghiệp trung bình tại các thành phố là 5,2%, số việc làm tạo mới là 12,44 triệu. Tuy nhiên, lạm phát tính theo chỉ số giá tiêu dùng chỉ đạt 0,2% trong bối cảnh nhu cầu yếu.

Special Offer từ MarketingTrips:

  • Tham khảo giải pháp Agency Listing từ MarketingTrips: Agency Networks
  • Đăng bài không giới hạn trên MarketingTrips với chi phí chỉ bằng 1 bài đăng (Booking): Content Partner
  • Đăng ký (dành cho Agency): Sign up

Tham gia Cộng đồng We’re Marketer của MarketingTrips (Trang tin tức trực tuyến về Marketing, Digital Marketing, Thương hiệu, Quảng cáo và Kinh doanh) để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: We’re Marketer

 

Đức vượt Nhật Bản thành nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới

GDP Nhật Bản giảm hai quý liên tiếp cuối năm 2023, khiến nước này rơi vào suy thoái, đồng thời mất ngôi nền kinh tế lớn thứ ba thế giới.

Đức vượt Nhật Bản thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới
Đức vượt Nhật Bản thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới

Số liệu chính thức công bố sáng 15/2 cho thấy GDP Nhật Bản tăng 1,9% trong năm 2023, lên 4.200 tỷ USD. Tuy nhiên, con số này lại thấp hơn Đức, với 4.500 tỷ USD, khiến Nhật Bản mất ngôi nền kinh tế lớn thứ ba thế giới về tay quốc gia châu Âu.

GDP quý IV/2023 của Nhật Bản cũng giảm 0,1% so với quý trước đó. Đây là quý thứ hai liên tiếp quốc gia này tăng trưởng âm. Trên lý thuyết, họ đã rơi vào suy thoái.

Tiêu dùng cá nhân – đóng góp hơn nửa GDP – giảm 0,2% trong quý IV so với quý trước đó. Chi tiêu vốn – động lực quan trọng của lĩnh vực tư nhân – giảm 0,1%.

GDP Nhật Bản đi xuống chủ yếu do đồng yen mất giá mạnh so với USD. Đồng tiền này đã mất giá gần 20% trong hai năm qua so với đôla Mỹ.

Một phần nguyên nhân khiến yen yếu đi là Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) duy trì chính sách lãi suất âm, trái ngược với làn sóng nâng lãi của các nền kinh tế lớn khác trên thế giới để ghìm lạm phát. Việc này khiến nhà đầu tư rời yen để tìm đến các kênh khác sinh lời cao hơn.

Kinh tế Nhật Bản dựa nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là xe hơi. Đồng yen yếu sẽ có lợi cho các hãng xuất khẩu. Tuy nhiên, quốc gia này đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt lao động do suy giảm dân số và tỷ lệ sinh ở mức thấp.

Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn nhì thế giới, sau Mỹ, từ cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Trong giai đoạn bùng nổ thập niên 70 và 80, quốc gia này còn được dự báo trở thành nền kinh tế số một.

Tuy nhiên, bong bóng giá tài sản vỡ vụn đầu thập niên 90 đẩy nước này vào “thời kỳ mất mát”, khiến kinh tế trì trệ và giảm phát suốt vài thập kỷ qua. Đến năm 2010, Nhật Bản mất ngôi nền kinh tế lớn nhì thế giới vào tay Trung Quốc.

Khi yen được dự báo còn tiếp tục giảm, sức ép lên Thủ tướng Fumio Kishida sẽ càng tăng. Tháng 11/2023, ông đã công bố gói kích thích trị giá 17.000 tỷ yen (118,5 tỷ USD).

Special Offer từ MarketingTrips:

  • Tham khảo giải pháp Agency Listing từ MarketingTrips: Agency Networks
  • Đăng bài không giới hạn trên MarketingTrips với chi phí chỉ bằng 1 bài đăng (Booking): Content Partner
  • Đăng ký (dành cho Agency): Sign up

Tham gia Cộng đồng We’re Marketer của MarketingTrips (Trang tin tức trực tuyến về Marketing, Digital Marketing, Thương hiệu, Quảng cáo và Kinh doanh) để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: We’re Marketer

Nguyên kinh tế trưởng của ADB Việt Nam: 2024 là năm bản lề để xoay trục tăng trưởng

Có thể thấy rất rõ, Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng trong nhiều năm nhưng chất lượng tăng trưởng dường như không được cải thiện nhiều.

Lấy ví dụ Hà Nội và TP HCM, hai siêu đô thị đóng góp 34,8% GDP của cả nước vào năm 2022. Tuy nhiên, mức độ ô nhiễm không khí, rác thải và nạn tắc đường ngày càng trở nên nghiêm trọng. Mức độ bụi mịn của Hà Nội từ năm 2017 – 2022 luôn ở gấp 7 đến 10 lần mức độ cho phép.

Rác thải vẫn là vấn nạn triền miên của Hà Nội. Nhiều nhà máy xử lý quá tải, xảy ra ùn ứ cục bộ, gây ô nhiễm môi trường, mỹ quan và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống của người dân. Trong khi đó, những dự án nhà máy xử lý rác thải hoặc bị chậm tiến độ, hoặc chết yểu.

Ô nhiễm nguồn nước cũng ngày càng trở nên nghiêm trọng. Theo thống kê năm 2022, lượng chất hữu cơ xả thẳng ra môi trường ở Hà Nội là 3.600 tấn/năm, dầu mỡ là 317 tấn cùng hàng chục tấn các kim loại nặng độc hại như chì, thủy ngân, sắt…Các con sông như Tô Lịch, Kim Ngưu bị ô nhiễm nặng nề, bốc mùi hôi thối ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống của người dân hai bên sông. Các nguồn nước ngầm cũng càng ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng với hàm lượng mangan cao.

Về ùn tắc giao thông, theo khảo sát của ADB năm 2019, trong 278 thành phố của 28 nước thì cả Hà Nội và TP HCM đều nằm trong top 10 các thành phố ách tắc nhất châu Á.

Về y tế, cho dù đã có những thành quả đáng khích lệ, hệ thống y tế ở các tuyến Trung ương và tuyến tỉnh đều trong tình trạng quá tải. Trước COVID-19, tỷ lệ sử dụng giường nội trú thường xuyên năm 2018 luôn trên 100% và dao động từ 120% đến 150% ở một số bệnh viện lớn.

Tình trạng quá tải có thể thấy rất rõ ở các bệnh viện lớn với hàng nghìn lượt thăm khám mỗi ngày. Đấu thầu thuốc đã có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn còn tình trạng bệnh nhân phải tự mua thuốc chữa bệnh, một thực tế khó chấp nhận được.

Về kinh tế, đằng sau con số tăng trưởng ấn tượng, nền kinh tế Việt Nam vẫn là nền kinh tế thâm dụng vốn và nhân công rẻ. Tỷ lệ tín dụng trên GDP của nền kinh tế vẫn rất cao, gần 125%/GDP, tạo ra những bất ổn vĩ mô lớn, trong khi hiệu quả sử dụng vốn vẫn thấp.

Về chất lượng lao động, Việt Nam có 70% lao động qua đào tạo nhưng chỉ có 24,5% có bằng cấp, chứng chỉ. Theo Ngân hàng Thế giới, trong các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế biến chế tạo ở Việt Nam, 70% vẫn sử dụng máy móc do con người điều khiển, 20% được làm thủ công, chỉ 9% sử dụng máy móc được điều khiển bằng máy vi tính và dưới 1% sử dụng công nghệ tiên tiến hơn như robot.

Theo báo cáo của Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghiệp liên bang (CSIRO) của Australia, tháng 11/2021, tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam có nghiên cứu và phát triển trong các ngành sản xuất còn rất thấp, như sản xuất thiết bị điện là 17%, hóa chất là 15%, thực phẩm 9%, và dệt may là 5%.

Tính theo PPP 2017, năng suất lao động của Việt Nam năm 2022 đạt 20,4 nghìn USD, chỉ bằng 11,4% mức năng suất lao động của Singapore; 35,4% của Malaysia; 64,8% của Thái Lan; 79% của Indonesia và bằng 94,5% của Philippines; tương đương mức năng suất lao động của Lào (20 nghìn USD).

Với thâm dụng vốn lớn và chất lượng lao động thấp, hiệu quả của nền kinh tế không được cải thiện nhiều. Chỉ số ICOR (được dùng để đánh giá một nền kinh tế cần bao nhiêu vốn đầu tư để tạo ra được một đồng tăng trưởng GDP) của Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2019 là 6,1 cao hơn nhiều so với các nền kinh tế khác trong khu vực, đặc biệt so với giai đoạn đầu của công nghiệp hóa của Hàn Quốc là 3 trong 1961 – 1980, Đài Loan là 2,7. Cùng thời điểm, ICOR của Thái Lan là 4,1 và Indonesia là 3,7.

Câu chuyện tương tự với thị trường tài chính khi từng cấu phần của thị trường chưa thực sự có chất lượng cao. Thị trường tín dụng ngân hàng chiếm 47% trong tổng vốn đầu tư trên thị trường tài chính, làm tăng rủi ro tín dụng và là một trong những nguyên nhân dẫn đến lợi nhuận ngân hàng sụt giảm, có nguy cơ gây bất ổn cho hệ thống ngân hàng.

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển mạnh trong những năm qua, nhưng chất lượng thấp, dẫn đến những bất ổn trong thị trường trái phiếu riêng lẻ trong năm 2020 và hậu quả vẫn chưa thực sự được giải quyết. Thị trường bảo hiểm trong toàn bộ thị trường tài chính còn quá nhỏ.

Với thị trường xuất nhập khẩu, Việt Nam là một trong những nền kinh tế có quy mô thương mại lớn nhất thế giới. Trong 10 năm kể từ 2011, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam tăng dần qua các năm. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2021 gấp 3 lần so với 10 năm trước, đạt 668,54 tỷ USD.

Tuy nhiên, cho dù với quy mô thương mại lớn như vậy, sự tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu vẫn ở mức độ thấp. Khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam chiếm tới 98% trong tổng số các doanh nghiệp  có đăng ký, nhưng chỉ có 21% số này liên kết với chuỗi cung ứng nước ngoài.

So sánh tỷ lệ này thấp hơn nhiều nước trong khu vực ASEAN như Thái Lan là 30%, Malaysia 46%. Ngoài ra, nhập khẩu vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu. Ngành may mặc nhập khẩu 70 – 80% nguyên vật liệu từ Trung Quốc, công nghiệp điện tử nhập khẩu sản phẩm đầu vào lên tới 77% tổng giá trị sản phẩm, dược phẩm nhập 85 – 90%. Ngành nhựa nhập khẩu các sản phẩm đầu vào chiếm đến 70 – 80% chi phí sản xuất.

Về đầu tư công, gần như năm nào câu chuyện cũng xoay quanh việc giải ngân đầu tư công được bao nhiêu phần trăm của kế hoạch. Tuy nhiên, hầu như rất ít sự chú ý vào chất lượng của các dự án đầu tư công, và cũng rất ít ai biết danh mục của các dự án đầu tư công.

Trên thực tế, có khi chỉ để đạt kế hoạch giải ngân, mà danh mục dự án có thể sẽ manh mún, thiếu đi tính lan tỏa và tính liên kết vùng. Có lẽ chất lượng cơ sở hạ tầng là thước đo rõ nhất chất lượng đầu tư công.

Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam dành trung bình 6% ngân sách hàng năm để phát triển cơ sở hạ tầng, cao hơn nhiều mức 2,3% của các nước trong khu vực, đưa Việt Nam lên thứ 47 trong số 160 nền kinh tế trong đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên, chất lượng đường của Việt Nam chỉ đứng thứ 103/160 và chỉ có 20% đường của Việt Nam được thảm nhựa ở mức độ trung bình hoặc thấp.

Hệ thống đường sắt vẫn đang trong tình trạng lạc hậu cả về hạ tầng, thông tin tín hiệu và đầu máy toa xe. Nhiều tuyến đường sắt được xây dựng từ 50 đến trên 100 năm, khổ 1.000 mm vẫn chiếm hơn 80% tổng chiều dài trong khi hầu hết các nước trên thế giới không còn dùng nữa.

Sự thiếu vắng của giao thông đa phương thức đã đẩy chi phí logistics lên cao từ 15% – 18% GDP, tăng chi phí sản xuất và giảm tính cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt là thương mại. Ngoài ra, trong vòng 15 năm, Hà Nội mới xây xong một tuyến metro. Đây cũng là tốc độ xây metro chậm nhất trên thế giới, với chi phí vốn cao.

Cuối cũng là chất lượng thể chế. Vào thời điểm nền kinh tế gặp nhiều thách thức như hiện nay, trong khi các dư địa như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa còn rất ít thì dư địa thể chế của Việt Nam còn rất nhiều để có thể cải cách hỗ trợ nền kinh tế.

Sau hàng chục năm, Việt Nam đã xây dựng được rất nhiều “hành lang pháp lý”, tuy nhiên vẫn thiếu vắng một môi trường pháp lý chất lượng. Thậm chí các hành lang pháp lý đang tạo ra một “ma trận” với người dân và doanh nghiệp, tăng chi phí sản xuất, và làm giảm tính cạnh tranh của nền kinh tế. Vì vậy, câu chuyện chất lượng sẽ là trọng tâm trong xây dựng hệ thống pháp luật của Việt Nam, hơn là số lượng luật được thông qua và sửa đổi.

Qua một số nét chấm phá của nền kinh tế Việt Nam có thể thấy con số tăng trưởng sẽ không còn nhiều ý nghĩa, nếu chất lượng tăng trưởng không được bảo đảm. Thậm chí, nếu chỉ quá tập trung vào đạt thành tích tăng trưởng trong ngắn hạn, có thể gây ra những hệ lụy đến chất lượng tăng trưởng trong trung và dài hạn.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy những nền kinh tế thành công như Hàn Quốc, Đài Loan và gần đây là Trung Quốc đều giải quyết rất tốt mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng. Điển hình là Trung Quốc.

Giai đoạn 1990–2008 là giai đoạn tăng trưởng nóng của Trung Quốc với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 10%, ít tập trung vào chất lượng.  Đây cũng là giai đoạn mà các vấn đề về môi trường và xã hội trở ngày càng trở nên thách thức lớn với nền kinh tế. Năm 2008. khi đăng cai thế vận hội Olympic, thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc là một trong những thành phố ô nhiễm nhất thế giới.

Sau 15 năm quyết tâm tập trung vào chất lượng tăng trưởng, cho dù tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc đã chậm lại trong giai đoạn 2008 đến nay. Nhưng cũng chính trong thời gian này, Trung Quốc đã giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước ở các thành phố lớn.

Có lẽ ấn tượng nhất là chỉ trong vòng 15 năm, Trung Quốc đã thực sự bứt phá về chất lượng cũng như số lượng của cơ sở hạ tầng, với sự hoàn thiện của tuyến đường sắt cao tốc với tổng chiều dài 37,900 km, tốc độ trung bình là 300 km/h.  Nói cách khác, năm 2008 là năm Trung Quốc đột phá chất lượng tăng trưởng, thay vì tập trung vào tốc độ tăng trưởng, và họ đã làm được nhiều kỳ tích trong thời gian này.

Năm 2024 sẽ là năm thứ tư của kế hoạch 5 năm 2021 – 2025. Những thách thức bên ngoài như các nền kinh tế phát triển giảm tốc, thương mại toàn cầu suy giảm, rủi ro vĩ mô toàn cầu, căng thẳng địa chính trị….vẫn sẽ tác động tiêu cực đến Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh mục tiêu tăng trưởng của năm 2024, đã đến lúc Việt Nam phải đặt chất lượng tăng trưởng lên là ưu tiên trọng yếu.

Cũng như Trung Quốc năm 2008, Việt Nam cần xác định ngay năm 2024 là năm đột phá cho chất lượng tăng trưởng trong trung và dài hạn, nếu Việt Nam thực sự muốn thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình để trở thành nền kinh tế không những chỉ có thu nhập cao, mà còn có chất lượng cao vào năm 2045.

Ông Nguyễn Minh Cường, Nguyên kinh tế trưởng quốc gia của ADB ở Việt Nam 

Tham gia Cộng đồng We’re Marketer của MarketingTrips (Trang tin tức trực tuyến về Marketing, Digital Marketing, Thương hiệu, Quảng cáo và Kinh doanh) để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: We’re Marketer

GDP của Việt Nam tăng trưởng hơn 5% trong năm 2023

GDP năm 2023 ước tăng 5,05% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng GDP của những năm bùng phát đại dịch COVID-19 (2020-2021) và thấp hơn tốc độ tăng GDP những năm còn lại của giai đoạn 2011-2023.

Thông tin được Tổng cục Thống kê công bố tại cuộc họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế – xã hội quý 4 và năm 2023, diễn ra ngày 29-12 tại Hà Nội.

Tổng cục Thống kê cũng cho hay quy mô GDP của nền kinh tế nước ta tính đến cuối năm 2023 ước đạt khoảng 10,22 triệu tỉ đồng, tương đương 430 tỉ USD.

GDP bình quân đầu người năm 2023 theo giá hiện hành ước đạt 101,9 triệu đồng/người, tương đương 4.284 USD, tăng 160 USD so với năm 2022.

Xét riêng trong quý 4-2023, tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng 6,72% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn quý 4 các năm giai đoạn 2020-2022.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế quý 4 theo GSO có xu hướng tích cực, cao hơn các quý trước của năm 2023, cụ thể quý 1 tăng 3,41%, quý 2 tăng 4,25%, quý 3 tăng 5,47%.

Theo bà Nguyễn Thị Hương – tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế năm 2023, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,83%, đóng góp 8,84%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,74%, đóng góp 28,87%; khu vực dịch vụ tăng 6,82%, đóng góp 62,29%.

Về năng suất lao động, bà Hương thông tin năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2023 ước đạt 199,3 triệu đồng/lao động, tương đương 8.380 USD/lao động/năm, tăng 274 USD so với năm 2022.

Lãnh đạo Tổng cục Thống kê cũng cho rằng trong năm 2023 sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng tích cực, tiếp tục giữ vững vai trò trụ đỡ của nền kinh tế.

Trong khi sản xuất công nghiệp lại gặp nhiều khó khăn, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp năm 2023 ước tăng 3,02% so với năm trước.

Về hoạt động dịch vụ năm 2023, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả năm 2023 ước đạt 6.231 nghìn tỉ đồng, tăng 9,6% so với năm trước.

Khách quốc tế đến Việt Nam năm 2023 đạt 12,6 triệu lượt người, gấp 3,4 lần năm 2022, vượt xa mục tiêu 8 triệu khách quốc tế của năm 2023 nhưng chỉ bằng 70% năm 2019 – năm chưa xảy ra dịch COVID-19.

Bên cạnh đó, số lượt người Việt Nam xuất cảnh đạt 5 triệu lượt người, gấp 2 lần năm trước.

Đối với thị trường chứng khoán, tính đến ngày 15-12, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường cổ phiếu đạt 17.624 tỉ đồng/phiên, giảm 12,6% so với bình quân năm 2022.

Giá trị giao dịch bình quân trên thị trường trái phiếu đạt 6.114 tỉ đồng/phiên, giảm 20,4% so với cùng kỳ năm trước.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2023 ước đạt 355,5 tỉ USD, giảm 4,4% so với năm trước.

Trong khi kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2023 ước đạt 327,5 tỉ USD, giảm 8,9% so với năm trước.

Cán cân thương mại hàng hóa năm 2023 ước tính xuất siêu 28 tỉ USD, tăng 16 tỉ USD so với năm 2022.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) 2023 tăng 3,25% so với năm trước, đạt mục tiêu Quốc hội đề ra.

Giá vàng năm 2023 tăng 4,16%, giá USD tăng 1,86% so với năm 2022.

Tham gia Cộng đồng We’re Marketer của MarketingTrips (Trang tin tức trực tuyến về Marketing, Digital Marketing, Thương hiệu, Quảng cáo và Kinh doanh) để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: We’re Marketer

Suy yếu kinh tế ở Trung Quốc không thể cản đà tăng trưởng ở Đông Nam Á

Trong gần 4 thập kỷ qua, các quốc gia Đông Nam Á đã được hưởng lợi đáng kể từ mối quan hệ kinh tế với Trung Quốc. Giao dịch thương mại và quan hệ đầu tư với đất nước tỷ dân đã giúp ích cho tăng trưởng và nâng cao mức sống trong khu vực.

Bây giờ, trong bối cảnh triển vọng tăng trưởng của Trung Quốc dần xấu đi, giới chuyên gia và công chúng lại lần nữa đặt câu hỏi về tương lai của khối kinh tế gồm 10 nước thành viên này.

Sự chững lại khó tránh của nền kinh tế Trung Quốc

Kể từ khi Bắc Kinh quyết định điều chỉnh mô hình kinh tế theo hướng phụ thuộc vào tiêu dùng thay vì đầu tư vào năm 2007, giới phân tích đã nhiều lần nghi ngại rằng liệu Trung Quốc có thể thành công mà không khiến tăng trưởng không chững lại đột ngột.

Nguyên nhân là do hoạt động đầu tư của Trung Quốc chủ yếu được thúc đẩy bởi nợ vay. Tổng nợ của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới hiện tương đương 300% GDP và lỗ hổng tài chính xuất hiện ngày càng nhiều.

Cho đến nay, Trung Quốc chưa để khủng hoảng xảy ra và hệ thống tài chính của nước này đủ mạnh để ngăn ngừa khả năng này. Tuy nhiên, không có nhiều dấu hiệu chứng tỏ mô hình kinh tế đã cân bằng theo hướng chính phủ mong muốn.

Tỷ trọng của tiêu dùng trong GDP hầu như không thay đổi trong 15 năm qua. Đầu tư tiếp tục chiếm hơn 40% sản lượng kinh tế, bất chấp tình trạng dư thừa công suất trong các lĩnh vực công nghiệp có liên quan.

Song, mô hình tăng trưởng dựa trên đầu tư của Trung Quốc đã đạt đến giới hạn. Theo nhận định của Nikkei, đây chính là nguồn gốc của những vấn đề hiện tại trong nền kinh tế tỷ dân.

Cùng với những rạn nứt trong mối quan hệ với các đối tác xuất khẩu lớn nhất là Mỹ và châu Âu, cũng như do sự thay đổi trong ưu tiên chính sách của Bắc Kinh từ tăng trưởng sang an ninh, triển vọng kinh tế của Trung Quốc đã bị che mờ.

Mặc dù các nhà phân tích có thể tranh luận về tiềm năng phục hồi trong ngăn hạn, không thể phủ nhận rằng về mặt cấu trúc, nền kinh tế tỷ dân đang chững lại.

Tốc độ tăng trưởng GDP của Trung Quốc đã giảm hơn một nửa trong giai đoạn 2007 – 2009 và có khả năng sẽ tụt xuống còn 3,5% vào cuối thập kỷ này.

Các nền kinh tế Đông Nam Á có cần lo lắng?

Mối quan hệ thương mại của Đông Nam Á với Trung Quốc đang mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Kim ngạch thương mại hàng hoá song phương đã vượt 500 tỷ USD vào năm 2019.

Tuy nhiên, Nikkei nhận thấy mối quan hệ đang ngày càng mất cân bằng khi Đông Nam Á phụ thuộc nhiều hơn vào hàng hoá nhập khẩu từ Trung Quốc và ghi nhận tăng trưởng xuất khẩu yếu hơn.

Ngoại trừ Indonesia, tỷ trọng của Trung Quốc trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của các nền kinh tế lớn trong khối ASEAN hầu như không biến động mấy trong suốt thập kỷ qua.

Trong khi đó, Indonesia được hưởng lợi từ nhu cầu nguyên liệu thô lớn từ các ngành đang phát triển nhanh của Trung Quốc như xe điện và tấm pin mặt trời.

Xu hướng trên xảy ra là vì kể từ giữa những năm 2000, Trung Quốc ngày càng giảm phụ thuộc vào hàng nhập khẩu. Hoạt động sản xuất trong nước phát triển một cách mạnh mẽ đã giúp Trung Quốc bớt lệ thuộc vào các đối tác.

Có khả năng khi Trung Quốc chuyển trọng tâm sang sản xuất công nghệ cao, nước này có thể bắt đầu nhập khẩu nhiều hàng tiêu dùng từ các nền kinh tế ASEAN. Tại một hội nghị thượng đỉnh vào tháng 9, Bắc Kinh cam kết sẽ tăng cường nhập khẩu hàng hoá từ Đông Nam Á.

Chi tiêu cho dịch vụ của người Trung Quốc ngày càng tăng cũng mang lại cơ hội tốt cho các nước láng giềng ở phía nam.

Thái Lan, Malaysia, Singapore và các nước khác từng được hưởng lợi đáng kể từ lượng khách du lịch Trung Quốc trước đại dịch.

Ngoài việc nâng tỷ lệ đóng góp của du lịch vào tăng trưởng GDP của các quốc gia này, du khách Trung Quốc còn tạo ra việc làm, nâng cao thu nhập của người dân và thúc đẩy nhu cầu nội địa.

Xu hướng trên có thể sẽ quay trở lại và tăng tốc hơn nữa khi bất ổn địa chính trị khiến người Trung Quốc tránh xa các địa điểm được ưa chuộng trước đây như Mỹ và Nhật Bản.

Tuy nhiên, yếu tố làm giảm bớt lo lắng cho các nền kinh tế Đông Nam Á là tiềm năng thu hút chuỗi cung ứng trong bối cảnh ngày càng nhiều doanh nghiệp cố gắng đưa dây chuyền ra khỏi Trung Quốc.

Điều này có thể bù đắp tác động tiêu cực từ sự chững lại của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới bằng cách giúp Đông Nam Á xuất khẩu thêm nhiều hàng hoá ra phần còn lại của thế giới.

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng các nền kinh tế ASEAN quả thực sẽ phải đối mặt với một số thách thức. Căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc đã gia tăng đáng kể trong những năm gần đây.

Washington không chỉ lo ngại về hàng nhập khẩu giá rẻ của Trung Quốc mà còn bất an rằng Bắc Kinh đang sử dụng kinh nghiệm và kiến thức của phương Tây để đi trước trong một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến.

Một số đồng minh của Mỹ, có cả Hàn Quốc và Nhật Bản, cũng lo ngại như vậy. Họ đã thúc đẩy một sáng kiến nhằm xây dựng chuỗi cung ứng không bao gồm quốc gia tỷ dân.

Đây là một vấn đề với các nền kinh tế ASEAN. Các nước này phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc về nguyên vật liệu trung gian, đồng thời là những nền kinh tế nhận nhiều vốn FDI của Trung Quốc.

Ngoài ra, ASEAN không phải là khu vực duy nhất đang nỗ lực phát triển chuỗi cung ứng. Trên thực tế, khu vực này đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ các nền kinh tế như Mexico và Ấn Độ.

Tham gia Cộng đồng We’re Marketer của MarketingTrips (Trang tin trực tuyến về Marketing và Kinh doanh) để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: We’re Marketer

 

Theo Nikkei | Doanh Nghiệp & Kinh Doanh

GDP là gì? Cách tính và ý nghĩa của chỉ số GDP trong Kinh tế

Trong phạm vi bài viết này, hãy cùng MarketingTrips tìm hiểu tất cả các thông tin nền tảng quan trọng cần biết về thuật ngữ GDP (GDP là từ viết tắt của Gross Domestic Product) như: GDP là gì, thấu hiểu chỉ số GDP trong bối cảnh kinh tế, công thức tính GDP, phân biệt GDP với GNP và GNI, phân loại GDP, cách sử dụng dữ liệu GDP (Tổng sản phẩm quốc dân) để đo lường sức khoẻ của một quốc gia, và nhiều nội dung liên quan khác.

GDP là gì
GDP là gì? Khái niệm và công thức tính GDP (Gross Domestic Product).

Dù bạn có phải là một người làm việc trong chính phủ, các tổ chức nhà nước, tại doanh nghiệp hay thậm chí là làm việc trong lĩnh vực kinh tế hay không, việc có được các kiến thức nền tảng về kinh tế vĩ mô là vô cùng cần thiết. Khi các chỉ số như GDP (Gross Domestic Product) có thể giúp bạn tính toán và xác định về sức khoẻ hay độ lớn của một quốc gia, có được những sự hiểu biết về thuật ngữ này là vô cùng hữu ích.

GDP là gì?

GDP là từ viết tắt từ chữ tiếng Anh Gross Domestic Product trong tiếng Việt có nghĩa là tổng sản phẩm quốc dân hoặc tổng sản phẩm nội địa.

GDP là tổng giá trị tiền tệ hoặc thị trường của tất cả các sản phẩm là dịch vụ và hàng hoá thành phẩm được sản xuất trong biên giới của một quốc gia trong một khoảng thời gian cụ thể.

GDP là một thước đo tổng thể về dung lượng sản xuất trong nước, nó có chức năng như là một điểm đánh giá toàn diện về sức khỏe kinh tế hay vị thế kinh tế của một quốc gia nhất định.

Mặc dù chỉ số GDP thường được tính theo năm nhưng đôi khi nó cũng được tính theo quý tuỳ vào từng quốc gia ở từng thời điểm khác nhau.

Ví dụ, ở Việt Nam, GDP thường được tính theo năm tuy nhiên vẫn có thể chia nhỏ theo quý để phục vụ cho một mục đích đặc biệt nào đó.

Thấu hiểu khái niệm GDP (Gross Domestic Product).

  • GDP là giá trị tính bằng đơn vị tiền tệ của tất cả các sản phẩm là hàng hóa thành phẩm và dịch vụ được sản xuất trong một quốc gia trong một khoảng thời gian cụ thể.
  • GDP cung cấp một bức tranh tổng thể về tiềm lực kinh tế của một quốc gia hay nói cách khác là mức độ giàu có ở cấp độ quốc gia nói chung.
  • GDP có thể được tính theo ba cách, sử dụng theo mức chi tiêu, sản xuất hoặc thu nhập. GDP có thể được đối sánh theo lạm phát và dân số để có được những góc nhìn khách quan và chính xác hơn.
  • Trong khi GDP thực (Real GDP) có tính đến ảnh hưởng của lạm phát (Inflation), GDP danh nghĩa (nominal GDP) thì không.
  • Mặc dù cũng có những điểm hạn chế nhất định, chỉ số GDP vẫn là công cụ quan trọng để các chính phủ hay người làm chính sách dựa vào để đưa ra phương án hành động. Nhà đầu tư và doanh nghiệp cũng sử dụng chỉ số GDP để ra quyết định chiến lược.

Một số lưu ý quan trọng cần hiểu về chỉ số GDP.

Việc tính toán chỉ số hay dữ liệu GDP của một quốc gia bao gồm tất cả các chỉ số tiêu dùng cá nhân và công cộng, chi tiêu của chính phủ, đầu tư, các chi phí xây dựng và cán cân thương mại nước ngoài.

Trong khi dữ liệu xuất khẩu (sang các quốc gia khác) được cộng vào giá trị của GDP, dữ liệu nhập khẩu thì được trừ đi vì nó không được sản xuất trên lãnh thổ của chính quốc gia đang tính toán.

Trong tất cả các thành phần tạo nên chỉ số GDP của một quốc gia, cán cân thương mại nước ngoài hay còn được gọi là cán cân ngoại thương (FBT) là đặc biệt quan trọng.

Về tổng thể, GDP của một quốc gia có xu hướng tăng khi tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ mà các nhà sản xuất trong nước bán ra nước ngoài vượt quá tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ của nước ngoài mà người tiêu dùng (doanh nghiệp) trong nước mua hay nhập vào.

Khi tình huống này xảy ra, một quốc gia được cho là có thặng dư thương mại hay còn được gọi với một cái tên khác đó là xuất siêu (xuất khẩu cao hơn nhập khẩu).

Trong tình huống ngược lại – tức là nếu số tiền mà người tiêu dùng trong nước chi cho hàng hóa nước ngoài lớn hơn tổng số tiền mà nhà sản xuất trong nước có thể bán cho người tiêu dùng nước ngoài – thì đó được gọi là thâm hụt thương mại. Trong tình huống này, GDP của một quốc gia có xu hướng giảm.

Một quốc gia “khoẻ mạnh” là quốc gia xuất siêu và có thặng dư thương mại cao.

GDP có thể được tính toán trên cơ sở danh nghĩa hoặc thực tế, tính toán dựa trên thực tế tức là có tính đến yếu tố lạm phát.

Về bản chất, vì có thể phản ánh được những gì thực tế đang diễn ra, GDP tính theo cơ sở thực tế là một phương pháp chính xác.

Giả sử một quốc gia có GDP danh nghĩa là 100 tỷ USD vào năm 2012. Đến năm 2022, GDP danh nghĩa của quốc gia đó đã tăng lên thành 150 tỷ USD. Chỉ số giá cả cũng tăng 100% trong cùng thời gian.

Trong ví dụ này, nếu bạn chỉ nhìn vào GDP danh nghĩa (nominal GDP,) thì nền kinh tế của quốc gia này dường như đang rất khoẻ.

Tuy nhiên, vì GDP thực tế (tính theo tỷ giá USD năm 2012) sẽ chỉ là 75 tỷ USD, nó lại không được “khoẻ” như bạn nghĩ.

Các loại chỉ số GDP phổ biến trên thế giới (và tại Việt Nam).

Trên thực tế, chỉ số GDP được tính toán theo rất nhiều cách khác nhau tuỳ theo từng cách phân loại khác nhau. Mỗi cách tính GDP đều mang những ý nghĩa thú vị khác nhau.

Đươi đây là các loại chỉ số GDP phổ biến nhất.

GDP danh nghĩa.

GDP danh nghĩa là chỉ số GDP được sử dụng để đánh giá về tình hình sản xuất kinh tế trong một nền kinh tế bao gồm các mức giá hiện hành. Nói cách khác, GDP danh nghĩa không loại bỏ yếu tố lạm phát hoặc sự biến động về giá tiêu dùng (CPI), những yếu tố có thể làm thay đổi chỉ số GDP nói chung.

Tất cả các sản phẩm là hàng hóa và dịch vụ được tính trong GDP danh nghĩa đều được định giá theo giá mà những hàng hóa và dịch vụ đó thực sự được bán trong năm đó.

GDP danh nghĩa thường được sử dụng khi so sánh các quý sản lượng khác nhau trong cùng một năm. Khi so sánh GDP từ hai năm trở lên, GDP thực tế lại được sử dụng thay thế.

GDP thực tế.

Ngược lại với GDP danh nghĩa, GDP thực tế (Real GDP) là thước đo được điều chỉnh theo chỉ số lạm phát, phản ánh chính xác số lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bởi một nền kinh tế trong một năm nhất định, với giá cả không đổi từ năm này sang năm khác để tách biệt tác động của lạm phát hoặc giảm phát (Deflation).

Giá cả tăng có xu hướng làm tăng GDP của một quốc gia, nhưng điều này không nhất thiết phản ánh bất kỳ thay đổi nào về số lượng hoặc chất lượng hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bởi quốc gia đó. Do đó, nếu chỉ nhìn vào GDP danh nghĩa của một nền kinh tế, bạn có thể khó biết được liệu con số này tăng lên do sự mở rộng sản xuất thực tế hay đơn giản là do giá cả tăng cao.

GDP thực tế được tính bằng cách sử dụng chỉ số giảm phát giá GDP (GDP Price Deflator), là mức chênh lệch giá giữa năm hiện tại và năm cơ sở được tính toán.

Ví dụ: nếu giá tăng 5% kể từ năm cơ sở thì hệ số giảm phát sẽ là 1,05. GDP danh nghĩa thì được chia cho chỉ số giảm phát này. GDP danh nghĩa thường cao hơn GDP thực tế vì lạm phát thường là số dương.

GDP thực tế cũng tính đến những thay đổi trong yếu tố giá trị thị trường (market value) và do đó nó có thể làm thu hẹp sự khác biệt giữa các số liệu sản lượng từ năm này sang năm khác. Nếu có sự chênh lệch lớn giữa GDP thực tế và GDP danh nghĩa của một quốc gia thì đây có thể là dấu hiệu của lạm phát hoặc giảm phát trong thời kỳ tính toán.

GDP bình quân đầu người (GDP Per Capita).

GDP bình quân đầu người hay còn được gọi là thu nhập bình quân đầu người là thước đo GDP tính bình quân trên từng đầu người trong tổng lượng dân số của một quốc gia. GDP bình quân đầu người có thể biểu thị năng suất trung bình hoặc mức sống trung bình của người dân trên một quốc gia nhất định.

GDP bình quân đầu người có thể được biểu thị theo danh nghĩa hoặc thực tế (đã điều chỉnh theo lạm phát) hoặc ngang giá sức mua (PPP).

Theo cách giải thích cơ bản, GDP bình quân đầu người cho thấy giá trị sản xuất kinh tế có thể được phân bổ cho mỗi cá nhân là bao nhiêu.

Vì GDP bình quân đầu người được tính từ GDP tổng của một quốc gia và dân số của quốc gia đó, điều quan trọng là phải hiểu mỗi yếu tố đóng góp như thế nào vào kết quả chung và nó giúp phản ánh điều gì về sức khoẻ của nền kinh tế.

Ví dụ: nếu GDP bình quân đầu người của một quốc gia đang tăng lên với mức dân số ổn định, thì đó có thể là kết quả của những tiến bộ công nghệ đang tạo ra nhiều sản phẩm hơn với cùng mức dân số tương ứng.

Một số quốc gia có thể có GDP bình quân đầu người cao nhưng dân số thấp, điều này thường có nghĩa là họ đã xây dựng được một nền kinh tế tự chủ (tự cung tự cấp) dựa trên nguồn lực đặc biệt dồi dào.

Công thức tính chỉ số GDP.

Như đã phân tích ở trên, GDP có thể được xác định thông qua ba phương pháp chính là tính theo mức chi tiêu, theo sản xuất (đầu ra) và theo thu nhập. Cả ba phương pháp đều cùng mang lại một chỉ số cuối cùng giống nhau.

Theo đó công thức được sử dụng để tính toán chỉ số GDP là:

GDP (Gross Domestic Product) = C + G + I + NX

Trong đó, C là mức tiêu dùng, G là mức chi tiêu của chính phủ, I là mức đầu tư, và cuối cùng NX là chỉ số xuất khẩu ròng.

Phân biệt chỉ số GDP với GNP và GNI.

Mặc dù GDP là thước đo được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức độ quy mô hay sức khoẻ kinh tế của một quốc gia, vẫn có nhiều cách khác để đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.

Trong khi GDP (Tổng sản phẩm quốc dân) đo lường hoạt động kinh tế trong phạm vi biên giới vật lý của một quốc gia (cho dù nhà sản xuất là người bản địa ở quốc gia đó hay các tổ chức thuộc sở hữu nước ngoài), thì GNP (Tổng sản phẩm quốc nội) là thước đo tổng sản lượng hàng hoá và dịch vụ được tạo ra chỉ bởi các cá nhân và tổ chức trong nước, bao gồm cả những tổ chức (và cá nhân) có trụ sở ở nước ngoài nhưng thuộc quốc gia đang tính toán.

GNP không bao gồm sản lượng được sản xuất bởi các cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài, dù các hàng hoá và dịch vụ được tạo ra trên chính lãnh thổ của quốc gia đang tính toán.

GNI (Tổng thu nhập quốc nội) là một thước đo khác của tăng trưởng kinh tế. Nó là tổng của tất cả các khoản thu nhập mà toàn bộ công dân của một quốc gia kiếm được (bất kể hoạt động kiếm tiền được diễn ra trong nước hay nước ngoài).

Mối quan hệ giữa GNP và GNI tương tự như mối quan hệ giữa phương pháp sản xuất (sản lượng) và phương pháp thu nhập được sử dụng để tính GDP.

GNP sử dụng phương pháp sản xuất, trong khi GNI sử dụng phương pháp thu nhập. Với GNI, thu nhập của một quốc gia được tính bằng thu nhập trong nước cộng với thuế kinh doanh gián tiếp và khấu hao.

Con số thu nhập ròng từ yếu tố nước ngoài được tính bằng cách trừ tất cả các khoản thanh toán cho các công ty và cá nhân nước ngoài khỏi tất cả các khoản thanh toán cho các doanh nghiệp trong nước.

Trong nền kinh tế ngày càng toàn cầu hóa, GNI được coi là thước đo tốt hơn cho sức khỏe tổng thể của nền kinh tế so với GDP. Bởi vì một số quốc gia có phần lớn thu nhập được các tổ chức và cá nhân nước ngoài rút ra nước ngoài nên con số GDP của họ cao hơn nhiều so với con số thể hiện qua GNI.

Ví dụ, vào năm 2019, Luxembourg có sự chênh lệch đáng kể giữa GDP và GNI, chủ yếu là do các khoản thanh toán lớn được thực hiện cho phần còn lại của thế giới thông qua các tập đoàn nước ngoài kinh doanh tại Luxembourg.

GDP của Mỹ hiện là khoảng 26,80 nghìn tỷ USD tính đến quý 2 năm 2023 trong khi GNI của nước này là khoảng 25,84 nghìn tỷ USD vào cuối năm 2022.

Cách sử dụng dữ liệu GDP.

Hầu hết các quốc gia đều công bố dữ liệu GDP hàng tháng và hàng quý. Tại Việt Nam, Tổng cục Thống kê là cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo và công bố chỉ số này.

Chỉ tiêu GDP của Việt Nam hàng quý, năm được biên soạn theo 2 phương pháp, từ góc độ sản xuất gọi là phương pháp sản xuất và từ góc độ sử dụng gọi là phương pháp sử dụng. Hai phương pháp này dựa vào hoạt động sản xuất và hành vi tiêu dùng của các chủ thể của toàn bộ nền kinh tế. Đây là cách làm khoa học, vừa đảm bảo xem xét được đầy đủ hoạt động sản xuất và hành vi tiêu dùng cũng như vừa có thể so sánh, đối chiếu để đánh giá tính chính xác của từng phương pháp, bổ trợ thông tin để kiểm tra chéo về chuỗi các hoạt động sản xuất – tiêu dùng các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.

Theo phương pháp sản xuất, kết quả sản xuất của các ngành kinh tế của cả nước tạo ra trong quý được tiếp cận từ các đơn vị sản xuất gồm: Doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty, hộ sản xuất nông, lâm thủy sản, cơ sở kinh doanh cá thể phi nông lâm thủy sản, các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, các đơn vị sự nghiệp… qua các chỉ tiêu về doanh thu, chi phí, sản lượng, diện tích… từ các nguồn gồm: Điều tra thống kê, chế độ báo cáo thống kê quốc gia, hồ sơ hành chính…

Theo phương pháp sử dụng, GDP được tính toán dựa vào tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ; số liệu về thu, chi ngân sách Nhà nước (từ Bộ tài chính); trị giá xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ (số liệu từ Tổng cục Hải quan); kết quả hoạt động xây dựng, nhập khẩu máy móc thiết bị và từ kết quả nhiều cuộc điều tra khác…

GDP thực tế là chỉ số nói lên nhiều nhất về sức khỏe của nền kinh tế. Nó được theo dõi và thảo luận rộng rãi bởi các nhà kinh tế, nhà phân tích, nhà đầu tư, nhà hoạch định chính sách hay cả từ các lãnh đạo doanh nghiệp.

Kết luận.

Trên đây là tất cả các giải đáp về những kiến thức liên quan cho câu hỏi GDP là gì cũng như cách tính toán và sử dụng dữ liệu GDP để đánh giá sức khoẻ của một quốc gia. Hy vọng với các thông tin có được giờ đây bạn đã có thể bắt đầu tìm hiểu các kiến thức nền tảng khác về kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô và hơn thế nữa một cách dễ dàng hơn.

Tham gia Cộng đồng We’re Marketer của MarketingTrips (Trang tin trực tuyến về Marketing và Kinh doanh) để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: We’re Marketer

Nam Nguyen | MarketingTrips