“Hệ sinh thái là nhân tố giúp tăng tiện ích, tăng hấp dẫn cho ví điện tử” là đánh giá của Tiến sĩ Cấn Văn Lực – Giám đốc Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV.
Theo chuyên gia kinh tế, sở hữu hệ sinh thái rộng là cách các ví hòa vào dòng chuyển dịch số của người dùng, nhất là giới trẻ có xu hướng yêu thích công nghệ. Bởi bản chất của ví điện tử là sự tiện lợi, nhanh chóng, an toàn trong thanh toán đối với các hoạt động thường ngày, giảm bớt đi rủi ro liên quan đến chi tiêu và quản lý tiền mặt.
Dẫn chứng một nghiên cứu gần đây của Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV, ông Lực đánh giá ví điện tử là dịch vụ tương đối mới tại Việt Nam, tuy nhiên có nhiều tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai xét về cả phía cung và cầu.
Về phía cung, Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ người dùng internet cao (70,3%) tương ứng 68,5 triệu người dùng Internet năm 2019. Với 43,7 triệu người dùng smartphones (chiếm 45% dân số năm 2019), Việt Nam đang ở mức trung bình khu vực, cao hơn so với Ấn Độ, Philippines, Indonesia và Thái Lan.
Nhiều công nghệ tiên tiến đang được áp dụng như xác thực sinh trắc như vân tay, khuôn mặt; mã phản hồi nhanh (QR Code); mã hóa thông tin thẻ (Tokenization).
Về phía cầu, còn rất nhiều dư địa để phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam. Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tháng 11/2019, hiện nay mới có khoảng 63% người trên 15 tuổi có tài khoản ngân hàng. Cùng với đó, tỷ trọng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán của Việt Nam năm 2019 còn khá cao và cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực.
Theo ông Lực, để tận dụng được bối cảnh cung – cầu này thì ví điện tử phải đặt phát triển hệ sinh thái vào nhóm những nhiệm vụ quan trọng và thực hiện song song với đẩy mạnh tiếp thị quảng bá và xây dựng hạ tầng thanh toán.
“Bắt tay với các nền tảng số, tổ chức tài chính, fintech, ngân hàng, viễn thông, dịch vụ di động… là cách để tăng trưởng hệ sinh thái”, ông Lực khẳng định.
Nhận định của chuyên gia không khác biệt so với thực tế. Hiện MoMo, Moca và ZaloPay – ba ví điện tử được sử dụng phổ biến nhất tại TP.HCM và Hà Nội, chiếm đến 90% thị phần theo nghiên cứu gần đây của Cimigo đều có hệ sinh thái liên kết rộng lớn nhằm giải quyết nhiều nhu cầu thanh toán của khách hàng.
Báo cáo của Cimigo chỉ ra, MoMo và ZaloPay được dùng nhiều để nạp tiền điện thoại, chuyển tiền và thanh toán hóa đơn. Còn Moca được dùng chủ yếu cho nhu cầu thanh toán xe công nghệ, nạp tiền điện thoại, chuyển tiền và giao đồ ăn.
Điều này đến từ cách tiếp cận và phát triển hệ sinh thái của mỗi ví là khác nhau. Trong khi MoMo, ZaloPay tạo hệ sinh thái tự thân thì Moca giải quyết bài toán này bằng hợp tác chiến lược với Grab – nền tảng cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho hàng triệu người dùng mỗi ngày.
Chiến lược “đứng trên vai người khổng lồ” của Moca giúp ví này dẫn đầu về tần suất người dùng sử dụng, mỗi ngày trung bình 2,2 giao dịch so với 2 giao dịch của MoMo và 1,6 giao dịch của ZaloPay. Ví này cũng chỉ mất một năm kể từ công bố hợp tác với Grab để vào nhóm dẫn đầu về thị phần.
Tuy nhiên, TS Cấn Văn Lực cho rằng, chỉ những đơn vị cung ứng có quy mô lớn, có tiềm lực về con người và năng lực công nghệ thì mới triển khai tốt tầm nhìn này.
Trong số các ví điện tử phổ biến trên thị trường, Moca cũng là ví dụ cho thấy ví điện tử có thể bứt tốc nếu tổng hoà được các yếu tố này. Mô hình hợp tác với Grab cho phép ứng dụng tạo lập mối quan hệ với khách hàng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Ở chiều rộng, ví Moca hiện là giải pháp thanh toán không tiền mặt cho hàng loạt dịch vụ được tích hợp trên nền tảng Grab, từ đặt xe, giao thức ăn, giao hàng, hay mới đây nhất là đi siêu thị hộ và mua hộ hàng hóa…
Đây là các dịch vụ gắn liền với những nhu cầu thường nhật, tần suất diễn ra cao mỗi ngày, khác với xem phim, thanh toán điện nước… diễn ra số ít lần trong tuần hoặc trong tháng. Trong đó, nhiều lĩnh vực Grab thuộc top nắm giữ thị phần cao như đặt xe, giao thức ăn.
Còn ở chiều sâu, Moca cũng đang tăng độ gắn bó với khách hàng nhờ vào những ưu đãi, khuyến mãi đánh vào nhu cầu thực tế, thay vì chỉ “đốt tiền” hút khách. Mặt khác, ngay khi không có khuyến mãi thì Moca vẫn đang chiếm ưu thế khi theo nghiên cứu của Cimigo, 95% khách hàng sử dụng Moca nói rằng họ vẫn tiếp tục sử dụng ví này cho dù không có khuyến mãi.
Bà Lê Xuân Phương – Phó giám đốc nghiên cứu Cimigo nhận định: “Khi người dùng đã lựa chọn một thương hiệu ví điện tử và nói rằng vẫn sẽ tiếp tục sử dụng dù không còn khuyến mãi, thì đó là một tín hiệu tốt, cho thấy thương hiệu được sử dụng vì có khả năng đáp ứng một hoặc nhiều nhu cầu thực sự về dài hạn”.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Sá xị Chương Dương có chuỗi 5 quý lãi liên tiếp từ khi nhân sự liên quan đến Thaibev tiếp quản và thực hiện đợt cải tổ lớn.
Ảnh: Internet
Công ty cổ phần Nước giải khát Chương Dương tiền thân là nhà máy Usine Belgique thuộc Tập đoàn B.G.I (Pháp). Đây là nhà máy sản xuất nước giải khát lớn nhất miền Nam giai đoạn trước năm 1975. Tập đoàn này sau đó chuyển nhượng quyền sở hữu và bàn giao toàn bộ nhà máy cho nhà nước.
Liên tiếp trong những năm gần đây, ban lãnh đạo Sá xị Chương Dương cho rằng công nghệ cũ từ năm 2000 là một trong những khó khăn lớn nhất khiến công ty chưa thể sản xuất các dòng sản phẩm mới phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
Điển hình như hồi 2016, công ty tung ra thị trường sản phẩm mới nhưng do máy móc thiết bị chưa đáp ứng nên phải thuê gia công bên ngoài khiến giá vốn bán hàng và giá thành sản phẩm tăng cao, khó cạnh tranh với các dòng sản phẩm cùng loại trên thị trường.
Bên cạnh đó, áp lực cạnh tranh thị phần với những doanh nghiệp lớn trong ngành nước giải khát như Pepsi, Coca-Cola, Masan hay việc chỉ tập trung cho một số nhà phân phối mà lơ là mở rộng thị trường, thiết lập mạng lưới điểm bán mới cũng được liệt kê vào danh sách khó khăn công ty phải đối mặt.
Không thể giữ thị phần trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt, Sá xị Chương Dương lún sâu vào khủng hoảng với 4 quý lỗ sau thuế liên tiếp. Cổ phiếu của doanh nghiệp này vì thế cũng rơi vào diện cảnh báo.
Hoạt động của ‘ông hoàng sá xị’ chỉ tích cực trở lại khi tập đoàn đồ uống Thaibev chính thức tiếp quản vào giữa năm 2018 và thực hiện đợt cải tổ lớn. Đây là khoảng nửa năm sau khi tập đoàn này mua lại cổ phần Tổng công ty cổ phần Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco), doanh nghiệp sở hữu gần 62% vốn Sá xị Chương Dương.
Nhân sự của Thaibev là ông Neo Gim Siong Bennett được bổ nhiệm giữ chức Chủ tịch nhiệm kỳ 5 năm, đồng thời là người đại diện pháp luật thay cho cựu Chủ tịch Trần Đức Hoà sau đại hội thường niên. Sau đó, ban lãnh đạo công ty thông báo bãi nhiệm thêm chức vụ Tổng giám đốc với một nhân sự người Việt khác.
Nhận định việc Sá xị Chương Dương sa sút trong giai đoạn trước, ông Neo Gim Siong Bennett cho rằng nguyên nhân là công ty không có kế hoạch chiến lược tổng thể mà chỉ theo đuổi những mục tiêu ngắn hạn. Ba giá trị chưa được đầu tư đúng mức là thương hiệu, nguồn nhân lực và cơ sở vật chất được ban lãnh đạo mới cam kết sớm hoàn thiện.
Một năm sau khi tiếp quản, các chỉ số trên báo cáo tài chính của Sá xị Chương Dương đã cho thấy thành quả của chiến lược kinh doanh mới. Doanh thu quý II năm nay giảm 9% so với cùng kỳ năm ngoái, nhưng nhờ kiểm soát tốt giá vốn bán hàng và các khoản chi phí khác nên lợi nhuận sau thuế tăng trưởng ba chữ số, lên gần 4 tỷ đồng.
Đây là quý thứ 5 liên tiếp công ty có lãi khi trở thành công ty con gián tiếp của tập đoàn đồ uống Thái Lan.
Lũy kế doanh thu nửa đầu năm giảm khoảng 3%, nhưng lợi nhuận lại gấp khoảng 14 lần so với cùng kỳ. Sá xị Chương Dương cũng xóa sạch lỗ lũy kế và có dôi dư hơn 8 tỷ đồng.
Trong các báo cáo giải trình chênh lệch lợi nhuận gần đây, ban lãnh đạo doanh nghiệp này đều cho rằng, tình hình tài chính diễn biến ngày càng tích cực chủ yếu đến từ việc kiểm soát tốt chi phí.
Việc doanh thu đi ngang, thậm chí giảm mạnh dù rơi vào mùa Tết Nguyên đán là do công ty chưa ra mắt thêm sản phẩm mới mà tiếp tục cải tiến, gia tăng mức độ hiện diện sản phẩm hiện có qua các kênh phân phối chủ lực hiện tại là chợ truyền thống, cửa hàng tạp hoá để khai thác lợi thế thương hiệu lâu đời.
Ban lãnh đạo công ty từng cho biết, 2019 là năm “đầu nguồn” khi nhóm lãnh đạo cũ được thay thế. Các sản phẩm chính đang và sẽ được đẩy mạnh hoạt động thương mại, nhận diện thương hiệu gồm sá xị, soda và nha đam nhằm đảm bảo mục tiêu sản lượng tiêu thụ không dưới 25 triệu lít.
Sá xị Chương Dương kỳ vọng lợi nhuận sau thuế năm nay sẽ tăng lên 10 tỷ đồng. Tính đến hết quý II, công ty đã hoàn thành đến 85% kế hoạch.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Mặc dù có tài sản ròng trị giá hơn 4 tỷ đô la và là động lực của Starbucks trong hơn ba thập kỷ, CEO Starbucks Howard Schultz nói rằng ông chỉ là một người bình thường, giống như bạn.
Ảnh: CNBC
Tôi không có bằng MBA (Bằng thạc sỹ kinh doanh). Tôi đã không đến trường Ivy League, CEO Schultz đã như thế với Masterclass.com trong loạt bài giảng về kỹ năng lãnh đạo doanh nghiệp. “Tôi chỉ là một người bình thường như bạn, tôi cũng có ước mơ muốn thử sức và xây dựng một công ty thật tuyệt vời”.
Ngày nay, Starbucks có vốn hóa thị trường hơn 100 tỷ đô la.
Howard Schultz, sinh ra và lớn lên trong nghèo khó, ông sống trong một căn nhà cộng ở Brooklyn, New York, đã mua nhượng quyền cà phê Seattle năm 1987 với giá 3,8 triệu đô la sau khi tìm được nhà đầu tư (bao gồm cả cha của Bill Gates) để giúp ông. Ông đã phát triển công ty từ 11 cửa hàng đến hơn 3.500 địa điểm tại hơn 75 quốc gia.
Schultz, 66 tuổi, hiện giữ chức chủ tịch Starbuck, sau khi nghỉ hưu với tư cách là chủ tịch điều hành vào tháng 6 năm 2018, nói rằng sự khác biệt duy nhất giữa ông và hầu hết mọi người là ông chống lại sự nghi ngờ bản thân và thay vào đó ông lao vào làm và làm.
Ông nói rằng sẽ rất ổn khi bạn tự nghi ngờ về khả năng thành công của mình, kiếm tiền hoặc thậm chí thu hút đúng người. Nhưng trong mọi trường hợp, bạn không được bao giờ có thể nghi ngờ về cam kết và niềm tin của bạn để thực hiện những gì bạn đã đặt ra, đó là điều mà chỉnh bản thân ông đã xây dựng Starbucks thành một thương hiệu mang tầm quốc tế.
Ông chia sẻ thêm, sẽ không có thời điểm, thời gian hay công thức huyền bí nào giúp bạn bắt đầu công việc kinh doanh của mình, bạn chỉ cần thực hiện nó với kỷ luật và sự chu đáo nhất có thể.
“Không có sách giáo khoa, không có người cố vấn, không có công cụ nào có thể khiến bạn nhảy vào thực hiện hoá ý tưởng của chính bạn hơn là sự cam kết và dũng khí của chính mình”. Ông tâm đắc nói.
Schultz tin rằng thành công của ông với Starbucks là thành quả của một sự quyết tâm đầy mãnh liệt và sự kiên trì không ngừng nghỉ.
“Tôi muốn điều đó xảy ra”, Schultz đã viết trong một sách hết sức nổi tiếng của mình, “Pour Your Heart Into It – Dốc Hết Trái Tim”. “Tôi đã nắm lấy cuộc sống của mình trong tay, học hỏi từ bất cứ ai tôi có thể, nắm bắt bất cứ cơ hội nào tôi có thể, và từng bước hun đúc thành công của tôi”.
Schultz cho rằng tinh thần kinh doanh là dành cho tất cả mọi người, nhưng ông vẫn khuyến khích mọi người sống một cuộc sống trọn vẹn và không có bất kỳ hối tiếc nào.
“Bạn có thể tìm thấy vị trí của mình trong cuộc sống. Nhưng nếu [tinh thần kinh doanh] nằm trong máu của bạn – và chỉ có bạn mới biết nó nếu có – khi ấy hãy thực hiện nó”.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
20 tuổi học, 30 tuổi “liều”, 40 tuổi “chừa”, 50 tuổi “bỏ”, 60 tuổi “buông” chính là thái độ sống nên có trong xã hội hiện đại ngày nay. Nó nói với chúng ta rằng, ở những độ tuổi khác nhau nên làm những việc phù hợp với lứa tuổi đó, đừng để lại hối tiếc cho cuộc đời.
Lúc trẻ nỗ lực làm việc, chăm chỉ kiếm tiền. Già hơn một chút rồi cố gắng có cho mình cuộc sống tự do, không quá quỵ lụy vào con cái, đời người, như vậy là viên mãn rồi!
20 tuổi “HỌC”
Có câu “ninh khi bạch đầu ông, mạc khi thiếu niên túng”, ý muốn nói, tuổi 20 là tuổi trẻ, đời người sau này sẽ có muôn vàn khả năng. Con người, khi ở độ tuổi 20 phải năng học tập, khi còn ngồi trên ghế nhà trường phải học hành cho tử tế, khi ra xã hội rồi vẫn phải không ngừng học hỏi, rèn luyện nâng cao năng lực chuyên môn, kĩ thuật.
Có như vậy mới có được một cơ hội công việc tốt hoặc có thể tự mình tách ra khởi nghiệp.
Nếu ngày ngày chỉ đâm đầu vào game, không học tập, không thực hành, vậy thì sẽ chỉ có thể làm công nhân tầng lớp thấp, lương lẹt đẹt 4-5 triệu một tháng, như vậy, cả đời này cũng chỉ có thể là một người nghèo.
30 tuổi “LIỀU”
Khổng Tử nói “tam thập nhi lập”, độ tuổi 30 là độ tuổi nên thành gia lập nghiệp. Ở độ tuổi này, con cái vẫn chưa lớn hẳn, cha mẹ thì cũng đã già rồi, một người đàn ông, thân là trụ cột gia đình, có rất nhiều việc phải dựa vào họ.
Nếu tới 30 tuổi mà vẫn không có tư tưởng liều mình, hết mình cho công việc, đồng thời tiếp tục nâng cao năng lực cạnh tranh, vậy thì con cái làm sao được học trường tốt, ba mẹ bị bệnh làm sao có thể tự do rút tiền ra đi chữa trị! Vì vậy, 30 tuổi nhất định phải “liều”, phải tăng tốc, hết mình cho công việc, vì cha mẹ, vì con cái và vì cả chính bản thân mình.
40 tuổi “CHỪA”
Khổng Tử nói “tứ thập nhi bất hoặc”, ý muốn nói 40 tuổi, trải qua đủ mọi phong ba bão táp, gặp qua vô vàn tình huống éo le, nếm trải không biết bao nhiêu chua ngọt đắng cay, người đàn ông đã trở nên chín chắn rất nhiều. Rất nhiều chuyện đã hiểu rõ ràng, không còn mơ hồ, hoang mang.
Tuy nhiên, người đàn ông ở độ tuổi 40, thông thường mà nói đều đã có những thành tựu nhất định, trừ những người không cầu tiến ra, ngoài ra, đây cũng là giai đoạn cám dỗ nhiều nhất, vì vậy, một người 40 tuổi phải học cách “chừa”, thuốc lá rượu bia, sự hiếu thắng, sự ham chơi, danh lợi nhất thời… tất cả những tật xấu này, phả học cách “chừa” chúng ra.
Tất cả những thói quen xấu của thời trẻ, phải học cách buông bỏ. Nó không chỉ cho thấy trách nhiệm với bản thân mà còn là trách nhiệm với gia đình.
50 tuổi “BỎ”
Khổng Tử nói “ngũ thập nhi tri thiên mệnh”, người tới tuổi 50, cái gì cần trải qua cũng đã trải qua rồi, ngộ ra được bản thân mình theo đuổi cái gì, biết rằng nửa đời còn lại của mình nên sống ra sao, có nhân sinh quan, thế giới quan của riêng mình.
Vậy mới nói, 50 tuổi, nên học cách “bỏ”, đừng cưỡng cầu bất cứ điều gì. Thứ không có được không nên quá chấp niệm. Học cách buông bỏ mới có được nhiều hơn.
Sau 50 tuổi, nên bồi dưỡng cho mình một vài sở thích mới, quen một vài người bạn mới, làm phong phú cuộc sống của mình hơn một chút.
60 tuổi “BUÔNG”
Cổ nhân nói “lục thập nhĩ thuận”, ý muốn nói, người già trải sự đời nhiều, không còn chuyện gì không thuận mắt thuận tai nữa. Lời thế nào cũng nghe được lọt tai, cũng phân biệt được phải trái đúng sai, trắng đen rõ ràng.
Bước vào tuổi 60, học cách buông bỏ, có công việc cũng nên nghỉ hưu rồi, đi làm cũng đã mấy chục năm, việc kiếm tiền cũng nên bỏ xuống rồi.
Lúc này, ở nhà gần gũi hơn với con cháu, nghe lời con cháu một chút, trao quyền lợi lại cho con cái, bao nhiêu khúc mắc, vướng bận cho qua được thì hãy cho qua hết đi! Cả nhà hòa thuận vui vẻ mới là quan trọng nhất.
20 tuổi học, 30 tuổi “liều”, 40 tuổi “chừa”, 50 tuổi “bỏ”, 60 tuổi “buông” chính là thái độ sống nên có trong xã hội hiện đại ngày nay. Nó nói với chúng ta rằng, ở những độ tuổi khác nhau nên làm những việc phù hợp với lứa tuổi đó, đừng để lại hối tiếc cho cuộc đời. Lúc trẻ nỗ lực làm việc, chăm chỉ kiếm tiền.
Già hơn một chút rồi cố gắng có cho mình cuộc sống tự do, không quá quỵ lụy vào con cái, đời người, như vậy là viên mãn rồi!
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
CEO Facebook hiện sở hữu tài sản hơn 89 tỷ USD và là người giàu thứ 3 thế giới chỉ sau Jeff Bezos và Bill Gates.
Bất chấp những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế toàn cầu, Mark Zuckerberg – CEO Facebook vẫn bổ sung hơn 30 tỷ USD vào khối tài sản khổng lồ của mình chỉ sau 2 tháng.
Mark Zuckerberg hiện là người giàu thứ 3 thế giới. Ảnh: Reuters
Theo bảng xếp hạng Bloomberg Billionaires Index ngày 23/5, Zuckerberg sở hữu 89,1 tỷ USD, vượt qua nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett(69,2 tỷ USD) và ông chủ LVMH Bernard Arnault (80,4 tỷ USD). Hồi giữa tháng 3, khi Thung lũng Silicon và Bay Area bắt đầu thực hiện lệnh “trú ẩn tại chỗ”, Zuckerberg xếp thứ 5 trên bảng xếp hạng người giàu của Bloomberg với 57,5 tỷ USD.
CEO Facebook hiện là người giàu thứ 3 thế giới, chỉ sau Jeff Bezos – ông chủ Amazon (147 tỷ USD) và nhà đồng sáng lập Microsoft, Bill Gates (108 tỷ USD).
Trong bối cảnh nền kinh tế đình trệ, gần 40 triệu người lao động Mỹ mất việc, Facebook của tỷ phú 36 tuổi vẫn tăng trưởng tốt.
Hôm 29/4, công ty này công bố báo cáo doanh thu quý I tốt hơn mong đợi. Facebook vượt qua kỳ vọng của các nhà phân tích phố Wall khi đạt doanh thu 17,74 tỷ USD và thu hút 1,73 tỷ người dùng hàng ngày trong 3 tháng đầu năm 2020.
Công ty cũng báo cáo đạt 3 tỷ người dùng hàng tháng trên toàn bộ hệ thống ứng dụng của mình, bao gồm Instagram, WhatsApp và Messenger. Đến sáng hôm sau, cổ phiếu Facebook tăng 8%, nâng giá trị thị trường thêm 44 tỷ USD.
Tuy nhiên, công ty của Mark Zuckerberg cũng thừa nhận có một “sự sụt giảm đáng kể” đối với nhu cầu quảng cáo trong 3 tuần cuối của quý I.
Trong 2 tháng qua, Facebook đã tuyên bố mở rộng hoạt động kinh doanh sang lĩnh vực thương mại điện tử và trò chuyện video. Gần đây, Facebook ra mắt Messenger Rooms, một dịch vụ trò chuyện video cho tối đa 50 người, khi các dịch vụ như Zoom và Houseparty gặp một số vấn đề khi sử dụng.
Cách đây ít ngày, Facebook chính thức “lấn sân” sang thương mại điện tử với Facebook Shops – tính năng cho phép người dùng mua sản phẩm trực tiếp trên nền tảng này.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Trong phạm vi bài viết này, hãy cùng MarketingTrips tìm hiểu các lý thuyết xoay quanh thuật ngữ Customer Centric Marketing hay Customer Centric (Lấy khách hàng làm trung tâm) trong ngành Marketing như: Customer Centric Marketing là gì, một số khái niệm liên quan đến Customer Centricity, tại sao Customer Centric lại quan trọng với thương hiệu và trong Marketing, những chiến lược Customer Centric chính mà thương hiệu có thể áp dụng là gì và hơn thế nữa.
Customer Centric là gì? Hiểu về Customer Centricity (Lấy khách hàng làm trung tâm) trong Marketing
Customer Centric trong tiếng Việt có thể hiểu là Lấy khách hàng làm trung tâm. Theo KPMG, 88% các CEO quan tâm đến lòng trung thành của khách hàng, nhận ra rằng việc nắm vững các thông tin chi tiết về khách hàng là điều hết sức cần thiết.
Vì vậy, với tư cách là một nhà lãnh đạo, làm thế nào để bạn xây dựng và duy trì một tổ chức không chỉ nhấn mạnh vào dịch vụ khách hàng mà còn thúc đẩy triển vọng định hướng khách hàng vào mọi thời điểm có thể?
Khái niệm Customer Centric được ra đời và trở nên phổ biến từ đây.
Các nội dung sẽ được MarketingTrips đề cập trong bài viết bao gồm:
Customer Centric là gì?
Tại sao Customer Centric lại quan trọng với doanh nghiệp hoặc thương hiệu?
Những chiến lược Customer Centric thương hiệu có thể áp dụng là gì?
Một tổ chức Customer Centric (các doanh nghiệp lấy khách hàng làm trọng tâm) cần làm những công việc gì?
Bên dưới là nội dung chi tiết.
Customer Centric Marketing là gì?
Customer Centric trong tiếng Việt có thể hiểu theo ý nghĩa là Lấy khách hàng làm trung tâm hoặc Coi khách hàng là trọng tâm.
Customer Centric Marketing là khái niệm đề cập đến một cách thức kinh doanh hay Marketing nhằm mục tiêu thúc đẩy những trải nghiệm khách hàng tích cực ở mọi giai đoạn của hành trình khách hàng (Customer Journey).
Customer Centric tập trung xây dựng lòng trung thành và sự hài lòng của khách hàng để từ đó doanh nghiệp sẽ có nhiều khách hàng được giới thiệu (referrals) hơn.
Bất cứ khi nào một doanh nghiệp đang sử dụng mô hình Customer Centric để đưa ra quyết định, họ sẽ xem xét một cách sâu sắc cách những hành động của họ có thể ảnh hưởng đến cảm xúc hay trải nghiệm của khách hàng.
Xây dựng một tổ chức “Customer Centric” tức lấy khách hàng làm trọng tâm trong thế giới kỹ thuật số ngày nay ngày càng trở nên phức tạp.
Mặc dù các công nghệ mới đã cho phép các doanh nghiệp triển khai điều này một cách nhanh chóng, nhưng giờ đây, khách hàng mong đợi và kỳ vọng nhiều hơn sự quan tâm từ phía doanh nghiệp hay thương hiệu.
Tại sao Customer Centric Marketing lại quan trọng với doanh nghiệp và thương hiệu?
Có rất nhiều lý do thúc đẩy các doanh nhân tạo ra các doanh nghiệp mới – đó có thể là xuất phát từ những niềm đam mê, đó có thể là về tiền bạc, danh tiếng, vinh quang hay sự tự do.
Tuy nhiên dù cho động cơ thành lập doanh nghiệp của họ là gì, thì chắc chắn một điều là doanh nghiệp đó của họ không thể không có nhân viên và khách hàng (dù chỉ là một).
“Nếu bạn không có và không giữ chân được khách hàng, bạn sẽ không thể tồn tại.”
Dựa trên những yếu tố hết sức căn bản này, bạn có thể nhận ra rằng Customer Centric đóng vai trò như một thực thể sống cho mọi sự phát triển của doanh nghiệp.
Trong khi các doanh nghiệp “bỏ quên” đi khách hàng của họ thường đầu tư sai vào các tài nguyên khác nhau từ đó dẫn đến thất bại.
Một thương hiệu hay doanh nghiệp áp dụng mô hình Customer Centric hay lấy khách hàng làm trọng tâm lại có thể chứng minh một kết quả hoàn toàn ngược lại, nơi mỗi thành viên trong tổ chức luôn lắng nghe những gì khách hàng nói và hướng đến khách hàng.
Khi nhận thức được tầm quan trọng của Customer Centric, một câu hỏi được đặt ra là doanh nghiệp cần làm gì để có thể áp dụng và theo đuổi được chiến lược này?
Những chiến lược Customer Centric Marketing thương hiệu có thể áp dụng là gì?
Mặc dù tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp khác nhau, các chiến lược có thể khác nhau, dưới đây là một số chiến lược bạn có thể tham khảo.
Xây dựng văn hoá lấy khách hàng làm trọng tâm – Customer Centric Culture.
Nếu mục tiêu của bạn là trở thành một tổ chức lấy khách hàng làm trọng tâm – Customer Centric, có một cách thông minh mà hầu hết các doanh nghiệp thành công đều đã áp dụng:
Hãy biến nó thành giá trị cốt lõi.
Bằng cách bao gồm một giá trị cốt lõi là tập trung vào khách hàng, bạn cung cấp một yếu tố mà cả tổ chức có thể coi đó là mục tiêu chung để hướng tới.
Hiểu một cách đơn giản cho cách tiếp cận này là, dù cho bạn làm gì và ở đâu, từ việc xây dựng nội dung trên các nền tảng mạng xã hội, tư vấn bán hàng hay viết bài trên website, tất cả đều phải cam kết tới một giá trị chung đó là “vì khách hàng”.
Tại Proof, một doanh nghiệp chuyên về SaaS (Software as a Service), một trong những giá trị cốt lõi của họ là “be customer obsessed” tức là tất cả những gì họ làm đều quy về khách hàng. Mọi nhân viên trong doanh nghiệp đều biết giá trị này và tham chiếu nó mỗi ngày.
Nếu bạn cảm thấy khó khăn với các quyết định và không biết liệu quyết định đó có đảm bảo bạn đang theo đuổi chiến lược Customer Centric hay không, bạn có thể tự hỏi “Điều này có giúp ích gì cho khách hàng của chúng ta không?”
Nếu câu trả lời là không, hiển nhiên, đó không phải là một quyết định sáng suốt.
Bạn cũng cần lưu ý rằng Customer Centric không phải là chiến lược riêng của bộ phận Marketing, nó cần phải trở thành chiến lược và mục tiêu chung của tất cả các bộ phận khác trong doanh nghiệp.
Xây dựng các hoạt động Marketing dựa trên khách hàng – Customer Centric Marketing.
Tiếp thị lấy khách hàng làm trọng tâm hay Customer Centric Marketing là chiến lược luôn coi khách hàng là một phần của thông điệp marketing của doanh nghiệp, mọi hoạt động marketing khi này đều hướng đến lợi ích chung của khách hàng.
Bằng cách sử dụng các chiến lược như Inbound Marketing và vận động sự ủng hộ của khách hàng (Customer Advocacy), các đội nhóm Marketing cung cấp những nội dung (Content Marketing) phù hợp cho khách hàng trên tất cả các điểm chạm, ngay cả khi họ đã mua hàng hoặc vừa chỉ mới bước vào phễu bán hàng.
Lấy khách hàng làm trọng tâm cũng không dừng lại với những nỗ lực marketing của bạn.
Đội ngũ bán hàng (Sales) của bạn cũng có thể áp dụng cách tiếp cận này và tạo ra một chiến lược tập trung vào khách hàng nhiều hơn.
Chiến lược bán hàng tập trung vào khách hàng – Customer Centric Sales.
Customer Centric Sales hay bán hàng lấy khách hàng làm trung tâm là chiến lược được điều chỉnh theo nhu cầu và mong muốn của khách hàng tiềm năng, thay vì của doanh nghiệp hoặc các đại diện bán hàng.
Thay vì là phản ứng trái ngược với các yêu cầu (khó khăn) đến từ khách hàng tiềm năng, những đại diện hay nhân viên bán hàng lấy khách hàng làm trung tâm sẽ chủ động chia sẻ các nội dung hữu ích cũng như hiểu biết của mình (insight) trên các phương tiện truyền thông mạng xã hội.
Họ cũng tham gia vào công cuộc xây dựng những nhà lãnh đạo tư tưởng bằng cách tham dự các sự kiện để mở rộng mạng lưới mối quan hệ của họ, thay vì chỉ là thực hiện những cuộc gọi ngẫu nhiên không mấy thiện cảm (Cold-Call).
Bạn cần lưu ý rằng, một khi doanh nghiệp hay đội nhóm của bạn áp dụng chiến lược lấy khách hàng trọng tâm, chiến thắng khách hàng là chiến thắng chung, phục vụ khách hàng là nhiệm vụ chung, và cố gắng, hãy tận hưởng các thành công nhỏ cùng nhau khi có thể.
Một tổ chức lấy khách hàng làm trọng tâm (Customer Centric Marketing Organization) cần làm những gì?
Một tổ chức lấy khách hàng làm trọng tâm (Customer Centric Organization) cần làm những gì?
Như chúng ta đã đề cập trong phần trước, chiến lược lấy khách hàng làm trọng tâm cần bắt đầu bằng cách xây dựng văn hóa của doanh nghiệp.
Dưới đây là những gì doanh nghiệp cần làm.
1. Dự báo nhu cầu của khách hàng – Customer Forcasting.
Khi nói đến các chiến lược tập trung vào khách hàng hay Customer Centric, nhu cầu luôn biến đổi của khách hàng có lẽ là tất cả những gì doanh nghiệp cần hướng tới.
Ông chủ hãng xe Ford nói rằng nếu ông chỉ lắng nghe những gì khách hàng nghĩ và muốn, ông sẽ không thể sản xuất được một chiếc xe hơi như hiện tại.
Vì ông có thể suy nghĩ ra những thứ mà đối thủ của mình còn chưa biết, ông đã tạo ra một sản phẩm dựa trên các dự báo nhu cầu trong tương lai của thị trường.
Ford biết khách hàng của mình muốn gì trước khi khách hàng biết họ muốn điều đó – đó là một động thái kinh doanh làm thay đổi cuộc chơi của Ford trong ngành ô tô.
Chúng ta cũng có thể thấy các kiểu dự báo tương lai tương tự ở Steve Jobs và Elon Musk.
Những CEO có tầm nhìn này đã phát triển và thúc đẩy những gì họ nghĩ rằng mọi người sẽ muốn trong tương lai, dù đó là mang lại cho thế giới những chiếc iPhone, iPad hay Model X, họ đã tạo ra những đế chế hàng nghìn tỷ đô la.
Bài học được rút ra cho người làm marketing và kinh doanh ở đây là, trong khi hầu hết khách hàng có thể cung cấp chính xác về những gì họ muốn ngày hôm nay, những gì họ thực sự muốn trong tương lai vẫn là những thứ rất mơ hồ, và doanh nghiệp cần đóng vai trò dẫn dắt họ trong suốt quá trình này.
2. Thu thập phản hồi của khách hàng.
Trong thế giới mà ai ai cũng nói về digital như ngày nay, có vô số cách mà bạn có thể thu thập phản hồi của khách hàng. Dưới đây là một vài ‘điểm tiếp xúc’ mà bạn có thể sử dụng:
Chat (Facebook, website…)
E-mail
Gửi SMS
Gọi điện thoại
Tin nhắn trong ứng dụng (in-app messages)
Làm bảng khảo sát (survey)
Gặp trực tiếp
Trong khi có rất nhiều cách để doanh nghiệp có thể liên hệ với khách hàng của mình, mỗi bộ phận hay phòng ban nên sử dụng những kênh phù hợp nhất đối với họ.
Dưới đây là 3 kỹ thuật nghiên cứu khách hàng bạn có thể tham khảo.
Thực hiện khảo sát.
Bằng cách nói với khách hàng của bạn rằng bạn không hoàn hảo, bạn có thể tìm hiểu rõ hơn về Insights khách hàng và theo dõi hiệu suất của mình.
Có rất nhiều cách để bạn có thể khảo sát khách hàng của mình cả online lẫn offline: Online các bạn có thể sử dụng Survey Monkey.
Các doanh nghiệp thành công nhất trên thế giới đã biết giá trị của các cuộc khảo sát và bằng cách thực hiện khảo sát sự hài lòng của khách hàng hoặc khảo sát sản phẩm thường xuyên, bạn có thể cung cấp một cách thức tuyệt vời để nhận được phản hồi từ phía khách hàng.
Khởi chạy một thử nghiệm người dùng.
Hỏi bất kỳ nhà thiết kế hoặc PM (product manager) nào về giá trị của thử nghiệm người dùng và họ sẽ cho bạn biết cách mà họ đã mong đợi về các hoạt động này.
Các công cụ tiếp thị kỹ thuật số hiện đại như Usertesting.com và Hotjar cung cấp một framework (khung mẫu) đơn giản để thu thập phản hồi từ khách hàng thực sự về sản phẩm của bạn.
Trong nỗ lực xây dựng một tổ chức lấy khách hàng làm trọng tâm, điều này có thể giúp xác thực linh cảm của bạn và hướng dẫn công việc của bạn hướng tới các dự án có tác động hay sức ảnh hưởng cao nhất.
Thực hiện cuộc gọi trực tiếp.
Có một người bạn luôn khăng khăng rằng nói chuyện qua điện thoại thì tốt hơn là nhắn tin? Rất có thể, người bạn này là một trong những người bạn thân của bạn.
Áp dụng theo cách tương tự, hãy coi khách hàng như ‘bạn thân’ và họ cũng thế, xem bạn như ‘bạn thân’. Chỉ bằng cách nhấc điện thoại, bạn có thể nhận được một hình thức phản hồi mạnh mẽ hơn từ khách hàng.
Một CTO của J.P. Morgan (Một ngân hàng đầu tư lớn nhất của Mỹ) đã thực hành kỹ thuật này hàng tuần – và ông thề trước những phản hồi mà ông đã thu thập được từ các cuộc gọi của khách hàng là:
“Nói chuyện với khách hàng có lẽ là điều quan trọng nhất tôi đã làm trong tuần.
Mặc dù có một mức độ phát triển sản phẩm nhất định đòi hỏi bạn phải có lập trường và dự đoán nhu cầu – tuy nhiên, tôi không thể làm điều đó mà không hiểu gì về tình hình hiện tại của khách hàng của mình.”
3. Cung cấp những cách tiếp cận dễ dàng và thuận tiện cho khách hàng.
Có một sự thật không mấy dễ chịu trong việc giao tiếp với khách hàng là, khi bạn làm cho quá trình khách hàng liên hệ với bạn càng khó khăn và phức tạp, bạn sẽ ít phải tiếp nhận thông tin từ họ hơn và hiển nhiên, bạn ít tốn kém hơn.
Để bạn có thể dễ dàng hình dung về điều này, bạn có thấy quá trình bạn liên hệ với một doanh nghiệp (lớn) nào đó là dễ dàng không, bạn đã từng chứng kiến cảnh bạn liên hệ lên tổng đài của một ngân hàng nào đó nhiều lần nhưng “tất cả đều bận” chưa.
Bạn có tìm thấy số điện thoại liên hệ hay các cách thức hỗ trợ trực tiếp trên các ‘Trang trợ giúp’ của Facebook hay Google không?
Vì doanh nghiệp sẽ mất một khoản đầu tư rất lớn vào chăm sóc khách hàng, họ thường có xu hướng làm cho quá trình đó trở nên “gián tiếp” hơn, khó khăn hơn.
Ở một diễn biến khác, Zappos, nhà bán lẻ giày trực tuyến này có cách tiếp cận hoàn toàn ngược lại để đạt được sự thành công của khách hàng.
Zappos xác định rằng khi khách hàng muốn nói chuyện với họ, họ nên tạo điều kiện dễ dàng nhất có thể.
Ông Tony Hsieh, CEO của Zappos, mô tả lý do của ông cho quyết định đó là:
“Nhiều người có thể nghĩ rằng thật kỳ lạ khi một công ty internet lại tập trung vào các cuộc điện thoại đến như vậy, đặc biệt, khi chỉ có khoảng 5% doanh số bán hàng của chúng tôi diễn ra qua điện thoại.
Nhưng chúng tôi nhận thấy rằng, trung bình, khách hàng của chúng tôi gọi điện cho chúng tôi ít nhất một lần. Và ở một thời điểm nào đó, nếu chúng tôi xử lý tốt cuộc gọi, chúng tôi có cơ hội tạo ra những tác động cảm xúc và ký ức về lâu dài…
Triết lý của chúng tôi là hầu hết số tiền mà chúng ta thường chi cho quảng cáo nên được đầu tư vào dịch vụ khách hàng, vì vậy khách hàng của chúng tôi sẽ tự marketing cho chúng tôi thông qua truyền miệng.”
4. Hãy trao đổi hay gặp gỡ trực tiếp với khách hàng.
Một trong những hạn chế lớn nhất mà các tổ chức và doanh nghiệp hiện đại đang phải đối mặt đó là thiếu đi những sự trao đổi trực tiếp với khách hàng.
Nhìn lại 50 năm trước, trước khi Internet ra đời và nền kinh tế toàn cầu trở nên đa dạng hơn, việc một doanh nghiệp tương tác với khách hàng cuối là điều hết sức bình thường.
Sự tiếp xúc trực tiếp giữa những con người với nhau diễn ra hàng ngày đơn giản là vì nó là một phần cần thiết của yếu tố thương mại.
Nếu bạn muốn một món hàng, bạn đi đến một cửa hàng, nói chuyện với nhân viên bán hàng và trực tiếp mua nó. Doanh nghiệp có thể sử dụng phản hồi đó để cải thiện trải nghiệm của người tiêu dùng.
Ngày nay, trong hầu hết các doanh nghiệp, điều này không còn diễn ra. Một phần là vì những tiến bộ khác từ nền kinh tế kỹ thuật số đã mang lại cho doanh nghiệp những phương án thay thế khác.
Mặc dù bạn có nhiều cơ hội để tiếp xúc hơn do sự hỗ trợ của yếu tố công nghệ, nhưng có một sự thật là, các mối liên kết lại trở nên mờ nhạt hơn.
Vậy làm thế nào để bạn chống lại điều này và bạn có thể mang lại những trải nghiệm trực tiếp hơn và sâu sắc hơn với khách hàng của mình.
Nghe thì có vẻ không mới, nhưng việc tổ chức các sự kiện trực tiếp có thể mang lại nhiều lợi ích cho bạn trong việc biến khách hàng trở trung tâm. Bằng cách tổ chức một sự kiện, bạn cung cấp giá trị cho cả hai bên: khách hàng và thương hiệu.
5. Cung cấp những dịch vụ khách hàng chủ động.
Một trong những cách tốt nhất để phân biệt doanh nghiệp của bạn với các đối thủ cạnh tranh là cung cấp cho khách hàng của bạn giá trị gia tăng vượt ra khỏi những gì mà khách hàng có thể mong đợi.
Điều này cho họ thấy rằng bạn đang không chỉ thực sự đầu tư vào việc tạo ra những trải nghiệm khách hàng thú vị mà còn luôn nỗ lực để làm tốt hơn những gì có thể.
Một cách để bạn có thể cung cấp giá trị gia tăng cho khách hàng đó là bao gồm các tính năng dịch vụ khách hàng chủ động.
Dịch vụ khách hàng chủ động cung cấp cho khách hàng của bạn các tài nguyên để họ có thể tự giải quyết các vấn đề mà không cần liên hệ với doanh nghiệp.
Bằng cách này, họ có thể tự giải quyết các vấn đề đơn giản và tránh phải chờ đợi nhóm dịch vụ khách hàng của bạn.
WashCard Systems là một trong những doanh nghiệp đã thu được nhiều lợi nhuận từ việc áp dụng dịch vụ khách hàng chủ động này. Họ đã sử dụng HubSpot để xây dựng trang báo giá (pricing page) để khách hàng không cần phải liên hệ trực tiếp cho điều này.
Trang định giá có vẻ như là một bổ sung đơn giản, nhưng nó đã thay đổi hoàn toàn quy trình xây dựng khách hàng tiềm năng của WashCard Systems.
Vào năm 2018, trang định giá đã trở thành trang được truy cập nhiều nhất trên website và ‘gánh’ gần 2/3 số lượng chuyển đổi trực tuyến của công ty.
6. Ứng dụng các công cụ chăm sóc khách hàng (Automation).
Customer Centric là gì? Marketing Automation.
Trải nghiệm của khách hàng với thương hiệu của bạn cũng quan trọng như các sản phẩm hoặc dịch vụ mà bạn đang cung cấp. Khách hàng không chỉ muốn sản phẩm mà họ còn muốn tận hưởng toàn bộ trải nghiệm mua hàng của họ.
Ngay cả khi sản phẩm của bạn rất tuyệt vời, bạn cũng sẽ mất khách hàng vào tay các đối thủ cạnh tranh nếu họ có khả năng làm cho các tương tác với khách hàng trở nên thú vị và hiệu quả hơn.
Việc áp dụng các công cụ dịch vụ khách hàng phù hợp đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra trải nghiệm lấy khách hàng làm trọng tâm (Customer Centric Experience).
Những công cụ này giúp các nhóm dịch vụ khách hàng của bạn tạo ra các hệ thống hỗ trợ bán hàng đa kênh (Omni Channel), liền mạch, cung cấp cho khách hàng các giải pháp tức thì cho các vấn đề của họ.
Làm như vậy, khách hàng sẽ hài lòng hơn vì doanh nghiệp đang đầu tư vào sự thành công ngắn hạn và dài hạn của họ.
Hãy lấy ví dụ về công ty bảo hiểm Lemonade. Lemonade nhận ra rằng một trong những thách thức khó khăn nhất đối với họ là thay đổi nhận thức của khách hàng về ngành nghề kinh doanh của mình.
Hầu hết mọi người không thích nói chuyện với các công ty bảo hiểm vì các trải nghiệm của khách hàng thường buồn tẻ và khó chịu. Vì vậy, Lemonade đã đầu tư vào chatbots để giúp thay đổi trải nghiệm đó cho khách hàng của mình.
Chatbot của Lemonade có tên là “Mia”, giúp tạo ra một cuộc trò chuyện nhẹ nhàng và thân thiện với người dùng. Mia cung cấp cho khách hàng những câu trả lời rõ ràng, ngắn gọn và tư vấn cho họ những kế hoạch phù hợp nhất với ngân sách của họ.
Ông Daniel Schreiber, CEO của công ty này cho biết: “chatbot này đã làm cho trải nghiệm dịch vụ khách hàng của của chúng tôi trở nên “vui tươi và tức thì”. Ngoài ra, chúng tôi đã có thể cắt giảm chi phí và giảm giá cho khách hàng nhờ tự động hóa được tăng thêm.”
7. Hãy nhìn xa hơn việc mua hàng.
Mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là thu hút khách hàng mua sản phẩm hoặc dịch vụ của họ. Tuy nhiên, khi khách hàng mua một lần, rõ ràng là bạn sẽ muốn đảm bảo rằng họ sẽ tiếp tục mua trong tương lai.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng chi phí để đạt được một khách hàng mới thường cao hơn gần 5 lần so với việc duy trì một khách hàng hiện có.
Tuy nhiên, làm thế nào để bạn có thể thúc đẩy khách hàng hiện tại mua hàng của bạn thêm ít nhất là một lần nữa hay bạn cần làm những gì?
Cách tốt nhất là cung cấp cho họ những lợi ích bổ sung, điều vượt ra ngoài những thứ mà họ có thể mong đợi từ việc mua hàng đơn thuần.
Những lợi ích này sẽ giúp khách hàng đạt được mục tiêu của họ đồng thời tạo ra những trải nghiệm khách hàng đáng nhớ hơn.
Bằng cách đó, khách hàng sẽ bắt đầu liên kết sự thành công của họ với các sản phẩm và dịch vụ của công ty bạn.
8. Xây dựng một quy trình phục vụ tiêu chuẩn.
Nếu bạn muốn tạo ra văn hóa lấy khách hàng làm trung tâm, đội nhóm của bạn không thể ‘bỏ rơi’ khách hàng sau khi bán hàng.
Thay vào đó, hãy đảm bảo khách hàng của bạn có thể tận dụng tối đa sản phẩm và dịch vụ của bạn. Bằng cách đó, họ sẽ có xu hướng quay lại doanh nghiệp của bạn hơn khi họ sẵn sàng mua thêm.
Một trong những phương pháp tốt nhất để tối ưu hóa giá trị sản phẩm của bạn trong mắt khách hàng là thiết lập một quy trình phục vụ chi tiết.
Quy trình này cung cấp cho khách hàng cách sử dụng chúng để đáp ứng các nhu cầu cụ thể của họ. Nhu cầu của mỗi khách hàng sẽ là duy nhất, vì vậy đội nhóm của bạn tốt nhất là nên cá nhân hóa quy trình này để đảm bảo mọi khách hàng đều được thành công theo những cách riêng.
Chargebacks 911 là doanh nghiệp SaaS đã ứng dụng rất thành công Customer Centric và tập trung vào quy trình phục vụ tiêu chuẩn.
Chargebacks 911 đã ứng dụng mô hình flywheel để phân tích các điểm khó khăn (pain points) khác nhau trong hành trình của khách hàng.
Sau khi đánh giá các chiến thuật bán hàng và marketing của họ, Chargebacks 911 đã nhận ra một lỗ hổng lớn trong trải nghiệm khách hàng của mình.
Để khắc phục điều này, công ty đã quyết định ban hành một chính sách mới trong đó đại các diện bán hàng của khách hàng sẽ hỗ trợ khách hàng trong suốt quá trình khách hàng sử dụng sản phẩm.
Lợi ích của việc này là các đại diện bán hàng có thể tham khảo các nhu cầu của khách hàng đã nêu trong các lần tương tác trước đó.
Sau đó, họ có thể xác định các sản phẩm và tính năng bổ sung có thể giúp khách hàng đáp ứng những nhu cầu đó một cách tốt hơn.
Điều này đảm bảo rằng khách hàng của Chargebacks 911 nhận được nhiều giá trị nhất có thể từ việc mua hàng của họ.
Kết luận.
Trên đây là toàn bộ các kiến thức nền tảng bạn cần biết về Customer Centric. Trong khi các yếu cố công nghệ liên tục thay đổi và hành vi của khách hàng cũng tương tự, áp dụng chiến lược Customer Centric Marketing hay lấy khách hàng làm trọng tâm là tất cả những gì doanh nghiệp cần làm để có thể đảm bảo rằng họ luôn luôn đứng cùng một hướng với khách hàng, phục vụ và hỗ trợ họ.
Nhiệm vụ của bạn giờ đây là hiểu rõ bản chất của Customer Centric Marketing là gì, hiểu về cách ứng dụng chiến lược Customer Centricity trong Marketing và hơn thế nữa.
Tham gia Cộng đồng We’re Marketer để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: Link
Hertz đã nộp đơn xin phá sản vào tối thứ 6 ngày 22.5, Hertz cũng là một “nạn nhân” mới nhất của cuộc suy thoái kinh tế đột ngột gây ra bởi đại dịch Covid-19.
Công ty đã cho thuê xe ô tô từ năm 1918, khi thành lập cửa hàng với hàng tá kiểu xe Ford Model Ts của hãng xe Ford, và đã sống sót qua cuộc đại suy thoái, sự ngừng hoạt động của nền sản xuất ô tô Mỹ trong Thế chiến II và nhiều ‘cú sốc’ giá dầu khác. Bằng cách tuyên bố phá sản, Hertz nói rằng họ dự định vẫn kinh doanh trong khi cơ cấu lại các khoản nợ và sẽ mở lại khi tình hình sức khoẻ tài chính của công ty tốt hơn.
“Tác động của Covid-19 đối với nhu cầu đi lại là quá đột ngột, gây ra sự sụt giảm đột ngột về doanh thu của công ty và các lượt đặt xe trong tương lai”, công bố của công ty cho biết. Công bố cũng cho biết thêm: “Trong khi phải hành động ngay lập tức để đối phó với cuộc khủng hoảng, sự không chắc chắn về khi nào doanh thu sẽ có thể trở lại ổn định và khi nào thì thị trường xe hơi đã qua sử dụng sẽ mở lại hoàn toàn, đòi hỏi chúng tôi phải có hành động ngay từ ngày hôm nay.”
Việc nộp đơn được cho là vụ phá sản cấp cao nhất của cuộc khủng hoảng Covid-19, đã khiến các nhà bán lẻ quốc gia như JCPenney, Neiman Marcus và J.Crew phá sản, cùng với một số công ty năng lượng khác như Whiting Oil và Diamond Offshore Drilling.
Nhưng không có công ty nào nộp hồ sơ cho đến nay có thị phần lớn trong ngành của họ như Hertz, cùng với các đối thủ như Avis Budget (CAR) và doanh nghiệp tư nhân vốn thống trị ngành công nghiệp cho thuê xe hơi.
Toàn bộ ngành công nghiệp cho thuê xe đã bị tàn phá bởi sự sụt giảm kể từ khi đại dịch xảy ra vào đầu năm nay. Gần hai phần ba doanh thu của ngành này chủ yếu đến từ các dịch vụ cho thuê tại các địa điểm sân bay và du lịch hàng không đã giảm mạnh. Kể từ đầu tháng 4, số người đi qua các trạm kiểm soát TSA tại các sân bay Mỹ đã giảm mạnh 94% so với một năm trước.
Nộp hồ sơ phá sản không có nghĩa là một công ty sẽ bị buộc phải rời bỏ các hoạt động kinh doanh. Nhiều công ty đã trải qua quá trình này và tiếp tục đạt lợi nhuận kỷ lục, điển hình như nhà sản xuất ô tô General Motors (GM) và nhiều hãng hàng không của quốc gia khác.
Nhưng cũng có nhiều công ty đã nộp đơn xin phá sản với ý định tiếp tục kinh doanh đã không ‘qua khỏi’ quá trình này.
Hertz cho biết quá trình phá sản sẽ mang lại cho bản thân nó “một cấu trúc tài chính mạnh mẽ hơn, định vị tốt nhất cho công ty trong tương lai.”
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
“Sau này, trước khi qua đời, nằm trên giường, tôi hoàn toàn có thể nói rằng tôi đã có một cuộc sống rất thoả mãn, không hối hận bất cứ một giây phút nào. Tôi đã sống trung thực, kiêu hãnh, tận cùng với bản ngã của tôi”, nhà thiết kế nội thất Quách Thái Công chia sẻ.
Quách Thái Công – nhà thiết kế nội thất người Đức gốc Việt, thường xuất hiện trên mặt báo cùng với hình ảnh những ngôi nhà với chi phí nội thất đến cả triệu USD. Ông cũng được biết đến với lối sống đẳng cấp, thượng lưu: Chỉ đeo đồng hồ hãng Rolex, sống trong ngôi nhà mà mỗi vật dụng như chiếc bàn, chiếc ghế có giá gần cả tỷ đồng. Lúc nhiều người hoang mang vì dịch Covid-19, ông dành hẳn 1 tháng “cách ly” cùng với bạn trai ở một resort thuộc hạng đắt đỏ nhất Việt Nam.
Quách Thái Công đã gây dựng cả sự nghiệp từ tài năng và “đôi bàn tay mình”, theo chính lời ông nói. Ông tự lập đến nỗi, do chẳng nhờ ai đi lên nên “dù họ có mời tiệc, mình không muốn tới cũng được”.
Bí quyết gì để có một cuộc đời độc lập, thành đạt lẫn hạnh phúc từ những năm niên thiếu 16 tuổi cho đến ngoài 40 như chính nhà thiết kế này bộc bạch? Câu trả lời có lẽ không nằm ở tiền bạc, mà ở lời dặn dò khi nhỏ của ba má ông…
Niềm đam mê với công việc thiết kế nội thất của Quách Thái Công bắt đầu từ khi nào?
Trang trí nội thất vốn là nhằm thoả mãn chính sở thích, đam mê của tôi. Hồi nhỏ ở nhà ba má, tôi tự mua giấy dán tường, tự sắp xếp bàn ghế, tự tìm kiếm thảm, phối màu, bài trí mọi vật dụng trong nhà. Có khi, mỗi tháng tôi trang trí phòng ngủ của mình theo một phong cách khác nhau.
Nhà tôi thường xuyên thay đổi nội thất, thay đổi cách sắp xếp, thậm chí có câu chuyện vui rằng những người bạn đến chơi có lúc than “thất vọng” khi chưa thấy phòng ốc của tôi chưa kịp thay đổi gì. Từ khoảng 20 tuổi, tôi ra ở riêng, ngôi nhà tôi ở cũng do chính tay tôi sơn sửa, trang trí. Đó là một thói quen, một đam mê ngấm vào máu.
Từ nhỏ đã thoải mái trang trí nhà, gia đình anh nói gì, vì tôi thấy đa phần phụ huynh Việt thường cho đó là sự bày bừa và không mấy ủng hộ?
Tất cả mọi sở thích của tôi đều được ba má ủng hộ tuyệt đối và vô điều kiện. Thứ tôi muốn làm, thích làm luôn được ba má hỗ trợ, khích lệ. Hồi xưa tôi học ảo thuật, cần phục trang hay đạo cụ là những chú chim bồ câu, chiếc túi giấu đồ nghề… thì má luôn là người may túi cho tôi, còn ba lấy thùng gỗ tỉ mỉ đóng đinh, sơn sửa và dán lại đẹp đẽ. Ngay cả khi theo học ngành thiết kế thời trang, chiếc đầm, chiếc áo tôi may chưa đạt chuẩn đều được má “sửa sai”, hướng dẫn may sửa lại cho.
Ba má tôi không bao giờ nói, thôi, đừng làm cái này, không làm cái kia. Gia đình tôi rất bình đẳng và tôn trọng nhau, má bảo: “Con muốn làm gì thì làm, té thì tự đứng dậy chứ đừng có kêu má. Đừng có tự làm xong rồi té, rồi khóc, rồi cần ba má giúp đỡ”. Ba má tin rằng chỉ khi tôi làm những thứ tôi tin là hạnh phúc thì tôi mới phát triển được.
Bạn thử ngẫm xem, chỉ khi bản thân mình hạnh phúc thì mình mới giúp những người xung quanh hạnh phúc được. Chỉ khi mình phát triển thì mới khích lệ sự phát triển cho những người xung quanh được. Khi đó, sự hạnh phúc, sự phát triển mới thật sự có giá trị lâu bền.
Được biết anh sinh trưởng trong một gia đình thượng lưu, nền tảng tài chính từ gia đình đã hỗ trợ anh như thế nào trong sự nghiệp?
Khi còn ở Việt Nam, gia đình tôi sản xuất dầu gội đầu và keo xịt tóc, mang thương hiệu Lê Lan 999. Sau năm 1975, gia đình tôi kết thúc công việc đó, tới năm 1981 thì sang Đức. Sang đó, ba tôi đã lớn tuổi rồi, tôi rất tự hào vì mình không làm phiền ba má điều gì. Cái xe hơi đầu tiên là tôi tự bỏ tiền mua, mọi chuyện đều phải tự lập hết.
Khoảng 15 tuổi tôi bắt đầu trình diễn ảo thuật ở khắp các chương trình lớn nhỏ, từ tiệc sinh nhật, đám cưới cho đến những bữa tiệc có tới cả chục ngàn người tham dự. Thậm chí, tôi tham gia trình diễn ở các cuộc thi và từng gặt được kha khá giải lớn. Thu nhập từ công việc đó giúp tôi có thể sắm sửa tất cả những gì tôi muốn trong cuộc sống. Đó cũng là khoản thu nhập lớn đầu tiên trong đời.
Thành công với ảo thuật sớm như vậy, tại sao anh không tiếp tục phát huy thế mạnh ấy mà lại chuyển sang ngành thiết kế nội thất, rồi trở thành “cái nghiệp” tới tận hôm nay?
Nghề tự chọn tôi. Ảo thuật chỉ là một sở thích, và vô tình sở thích ấy mang lại cho tôi nguồn tài chính khá khẩm. Sau đó tôi chuyển sang học ngành thiết kế thời trang, làm stylist thời trang. Đặc thù khi chụp hình thời trang là cần thiết kế bối cảnh, chẳng hạn chọn cái ghế, bàn, bình hoa… phù hợp với concept đưa ra, thì việc bài trí ấy tôi tự làm được hết. Riết rồi người ta kêu tôi làm bối cảnh cho cả video ca nhạc luôn.
Khi tôi mở Art Gallery và tự trang trí nội thất ở bên trong, hữu duyên sao, một chủ khách sạn ở Hamburg nhìn thấy, mời tôi trang trí khách sạn của ông ấy. Sự hợp tác rất thuận lợi, rồi nhiều lần về sau, người ta tự mang yêu cầu đến cho tôi chứ tôi không phải cất công tìm kiếm.
Lần đầu tiên, bạn có thể cho rằng đó là may mắn, nhưng nhiều lần cơ hội tự đến thì không thể coi là vận may được! Tôi say mê công việc thiết kế nội thất và dốc lòng làm tốt nhất trong khả năng của mình nên tôi tin mình đủ sức mạnh chinh phục những đôi mắt thẩm mỹ khó tính nhất.
30 năm thành công trong công việc thiết kế nội thất ở Đức, anh có trong tay danh sách của những khách hàng thuộc giới chính khách, thượng lưu tại nước này. Tại sao anh lại quyết định trở về Việt Nam mở công ty?
Năm 2014, nhân chuyến về Việt Nam du lịch, tôi tìm được một căn nhà rất đẹp ở Tú Xương, được người Pháp xây từ năm 1920. Tôi làm mới lại ngôi nhà, rồi “hữu xạ tự nhiên hương”, báo chí tìm đến chụp hình. Không lâu sau, tôi được đề nghị làm đại diện cho một nhãn hàng xa xỉ.
Ban đầu, tôi thấy những gì mình làm còn xa lạ với nhu cầu tại Việt Nam, nhưng dần dà tôi nhận ra có một lượng nhỏ khách hàng thượng lưu ở đây hiểu được sản phẩm của mình. Showroom nội thất đầu tiên được khai trương vào năm 2015, việc kinh doanh phát triển quá mức tưởng tượng, vượt ngoài sự mong đợi cho tới ngày hôm nay.
Khách hàng và nhân viên không lạ gì sự tỉ mỉ tới mức ‘cực đoan’ của anh trong thiết kế nội thất. Anh từng chia sẻ, anh bay khắp thế giới, tìm những sản phẩm ưng ý, bởi anh “chỉ bán thứ anh thích”.
Thậm chí, có người kể rằng anh nhìn thấu từ miếng ráp của chiếc ghế, độ nặng của cái ly, đến từng chiếc dao chiếc nĩa trên bàn bài trí. Nội thất tại showroom của Quách Thái Công bắt buộc phải thay đổi mỗi tháng một lần. Anh làm sao duy trì được sự khắt khe đó trong công việc kinh doanh?
Khách hàng trước khi gặp tôi, phải qua “phỏng vấn” trước, chúng tôi tìm hiểu về yêu cầu của họ, xem có đúng thứ mình có thể đáp ứng hay không. Chúng tôi đòi hỏi sự tin tưởng của khách hàng, nếu khách hàng không tin vào thẩm mỹ, kỹ thuật hay sự trung thực trong giá cả, tôi cũng không thể giúp gì được cho họ.
Tôi đã từ chối nhiều công trình, dù công trình ấy có thể mang đến nhiều tiền bạc và gia tăng thêm danh tiếng nhưng vì không có chung tiếng nói, nên tôi sẵn sàng lắc đầu từ chối.
Có trong tay tiền bạc, danh tiếng, địa vị, sự nghiệp đồ sộ và đời sống cá nhân vô cùng viên mãn. Anh định nghĩa như thế nào về thành công?
Thành công của tôi phải bao gồm 3 điều tự do. Thứ nhất, bạn phải đạt được tự do về thời gian. Thời gian của tôi do tôi toàn quyền quyết định. Điện thoại tôi cả ngày không ai gọi cả vì tôi có trợ lý bắt máy cho, tôi cũng không đi công tác nhiều. Có thể bạn rất giàu, nhưng nếu không tự do về thời gian, thì đó chưa phải thành công đích thực.
Thứ hai là tự do địa điểm. Ca sĩ Michael Jackson ngày xưa vì nổi tiếng quá không đi đâu được, tới đâu người ta đều xúm lại, không gian riêng hoàn toàn bị phá vỡ. Còn tôi được tự do quyết định địa điểm mình muốn hay không muốn đến. Cũng vì những chữ tự do trên mà tôi không khuếch trương thương hiệu thành chuỗi bán lẻ, cũng không mở thêm chi nhánh nào nữa tại Hà Nội hay Đà Nẵng như nhiều người gợi ý.
Còn tự do thứ ba mà anh muốn nói tới là gì?
Là tự do về tinh thần. Nhiều người nổi tiếng nhưng không có được điều này. Tôi là người đồng tính, nhưng tôi không ngại ngần hay nỗ lực che giấu, ngược lại, tôi tự do thể hiện ra cho thế giới này biết.
Đó là sự tự do của tôi. Chẳng hạn bạn rất nổi tiếng, rất giàu có, nhưng bạn không dám thể hiện con người của bạn, thì cuộc sống đó là gì? Cuộc sống giả tạo như một tấm áo nguỵ trang hòng che mắt thiên hạ, một cuộc sống không thật thà, chân thực.
Sống vậy rất uổng! Thành công của tôi là sống một cuộc đời đúng như tôi mong muốn, miễn là không làm người khác đau đớn hay tổn thương. Bạn biết không, nếu ngày mai trước khi chết đi, tôi hoàn toàn tự tin nói rằng tôi đã có một cuộc sống rất thoả mãn, không hối hận bất cứ một giây phút nào, tôi đã sống trung thực, kiêu hãnh, tận cùng với bản ngã của tôi.
Nhưng chẳng phải để có được 3 chữ tự do trên, thì điều kiện tiên quyết phải đạt được là tự do tài chính? Người ta vẫn bảo, phải có tiền trước thì mới bắt đầu mơ tới những thứ khác, thậm chí cao siêu như… hái sao trên trời. Anh nghĩ thế nào về quan điểm này?
Lúc tôi 20 tuổi, tôi chỉ xài đúng số tiền tôi có, tôi với bạn cùng đi picnic, tự nấu ăn, tự chuẩn bị mọi thứ. Ước mơ năm 20 tuổi giản dị như thế.
Tới 40 tuổi, có người bạn tôi mua du thuyền 40 triệu đô, tôi cũng không đòi hỏi rằng mình cũng phải mua du thuyền. Có thể năm 60 tuổi tôi cần du thuyền hay máy bay, nhưng giờ tôi không có nhu cầu đó.
Tôi gọi là “giàu đủ xài”, cái đủ đó mình phải tự quyết định được. Hiện tại tôi hạnh phúc, nhưng nếu đầu óc tôi nghĩ xa hơn nữa, tôi đã tự động đánh mất cái hạnh phúc đó. Nếu tôi nghĩ mình cần mua du thuyền, trực thăng thì tôi đâu thể ngồi đây với bạn. Vì cứ muốn nhiều quá thì phải làm việc nhiều hơn, phải nhận những công việc mình không muốn làm.
Nghĩ lại, năm tôi 18 tuổi, 20 tuổi, 30 tuổi, 40 tuổi, giai đoạn nào tôi cũng hạnh phúc cả. Ngay ở hiện tại này, ai cũng có thể sống hạnh phúc. Nếu bạn muốn sống hạnh phúc ngày hôm nay thì bạn sẽ chỉ làm công việc và nhu cầu của bạn đến đó thôi, đừng tham lam, đừng yêu cầu nhiều quá.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Chỉ khác nhau chỉ ở “s” cuối từ, nhưng nghĩa của “communication” và “communications” lại rất khác biệt. Đã là dân “ngành” thì nên phân biệt được 2 cụm tự này nhé.
“Communication” là giao tiếp, sự trao đổi thông tin giữa các các nhân. Đó chính là con người, là sự liên hệ, tương tác, là những gì chúng ta làm hàng ngày.
“Communications” là một hệ thống truyền tải thông tin, ví dụ báo, đài, TV… Đó chính là công nghệ, là “cái loa” giúp doanh nghiệp truyền tải những thông điệp của mình tới khách hàng.
Cụm từ Communications cũng xuất hiện trong thuật ngữ Integrated Marketing Communications (thường được gọi tắt là IMC).
Do đó, một chuyên gia truyền thông là “communications expert” (với một chữ “s” ở cuối từ) chứ không phải “communication expert”, với hàm ý cô ấy hay anh ấy hiểu rất rõ các phương thức để truyền đạt thông điệp tới khách hàng.
Một cuốn sách viết về “communications” sẽ cho các bạn biết về các phương tiện truyền thông, về công nghệ để việc giao tiếp trở nên hiệu quả, hơn là tương tác giữa con người với con người. Trong khi đó, một cuốn sách về “communication” sẽ hướng dẫn các bạn cách thức để giao tiếp với người khác một cách hiệu quả và phù hợp.
Vậy “truyền thông” theo cách hiểu của marketing là “Communication” hay “communications”? Nó tùy thuộc vào cách thức bạn hiểu thế nào là “truyền thông”. Nếu “truyền thông” liên quan nhiều tới việc sử dụng công nghệ để truyền đạt thông điệp tới với thị trường, nó là “communications”.
Còn nếu truyền thông được hiểu với nghĩa rộng hơn, nó là tương tác giữa doanh nghiệp và khách hàng, nó là “communication”. Cá nhân mình cho rằng, truyền thông là “communication” hơn là “communications” vì các lý do sau:
“Communications” liên quan nhiều tới các phương thức chuyển thông tin đi (qua “mass media”), mà không quan tâm tới việc nhận thông tin về. Nó đơn giản là “truyền thông” một chiều, không phù hợp với doanh nghiệp hiện đại.
“Communication” là nền tảng của truyền thông, bao hàm nội dung phức tạp hơn “communications” nhiều: xây dựng thông điệp, lựa chọn phương pháp tiếp cận phù hợp (đôi khi là cá nhân – personal), và nhận thông điệp từ khách hàng, phản hồi khách hàng…
Trong các tài liệu chính thống về marketing, trong “4C” cũng bao gồm:
Customers’s wants and needs (nhu cầu và mong muốn của khách hàng)
Costs (các loại chi phí mua hàng)
Convenience (sự tiện lợi)
Communication (truyền thông – giao tiếp với khách hàng)
Khi còn dạy ở Đại học Ngoại thương, mình hay nói với sinh viên, thuật ngữ “truyền thông” không nên được hiểu là việc doanh nghiệp chỉ “truyền đi thông điệp” mà còn phải hiểu là sự lắng nghe của doanh nghiệp với khách hàng. Đó mới là ý nghĩa thực sự của “communication”.
Tham gia Cộng đồng We’re Marketer của MarketingTrips để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: We’re Marketer
Có 3 câu hỏi mà thỉnh thoảng tôi thường hỏi lại mình, chỉ để kiểm tra xem mình có đang phát triển và sống đúng với mục đích sống của bản thân.
Nghĩ và cam kết là một chuyện. Khi triển khai thực hiện, có khi ta cũng bị sóng đời đẩy lệch về đâu đó. Vì vậy, đôi khi bạn cũng nên dành thời gian hỏi lại chính mình. 3 câu hỏi tôi hỏi mình bao gồm:
1. Mình có đang học được điều gì đó mới?
Trong thế giới của cách mạng 4.0, người ta không thể dừng lại. What gets you here won’t get you there – Những gì bạn biết & đưa bạn đến thành công hôm nay sẽ không đưa bạn đến thành công của ngày mai.
Vì vậy cần phải học thêm, học nữa, học những gì mình còn chưa biết. Và điều mình còn chưa biết thì vô tận lắm. Chẳng ai biết hết bao giờ. Và ngày mà ta ngừng học là ngày ta trôi về phía quá khứ và đoạn tuyệt với tương lai.
2. Ta có đang giúp đỡ người khác?
Có 3 loại người trong đời, người đến để cho, người đến để lấy, và người có qua có lại. Người đến lấy chỉ biết lấy, và họ chỉ chực chờ cơ hội để gom góp cho mình. Người có qua có lại thì phải thấy bạn cho họ chút lợi lộc gì thì họ mới trả lại bằng như thế, cũng như là kiểu lợi quả khi bạn đi đám giỗ.
Còn người cho đi thì chỉ vui vẻ mà cho, chẳng nghĩ ngợi gì, cũng chẳng lo lắng chuyện người ta lấy rồi có mang ơn hay lợi quả. Cho đi vô điều kiện thật ra là không dễ, nhưng người thành công trên thế giới là người học được cách cho đi.
3. Ta có yêu thích, đam mê điều ta đang thực hiện?
Bạn làm gì không biết, làm nghề, làm kinh doanh, làm dự án xã hội…, làm gì cũng được nhưng tốt nhất là nên làm chuyện khiến cho trái tim ta ca hát mỗi ngày. Ta sinh ra và thời gian sống trong cuộc đời có hạn.
Thời gian mất đi là thời gian mãi mãi chẳng còn. Nếu vậy, việc gì ta phải hy sinh thời gian để làm việc mà mình không yêu thích? Bạn đang sống hay đang hy sinh? Mà có ai yêu cầu bạn hy sinh đâu nhỉ? Có khi bạn ngộ nhận. Có khi bạn đang đóng khung chính cuộc sống của mình?
Tôi đang học. Tôi đang giúp đỡ người khác. Tôi đang yêu thích những việc mình làm. Tôi hỏi tôi và tôi trả lời cho chính bản thân tôi. Tôi chịu trách nhiệm việc mình sống hay hy sinh vô nghĩa.
Chúc các bạn một ngày mới nhiều niềm vui và đừng quên dừng lại vài giây để hỏi mình 3 câu hỏi.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Trong khi quảng cáo và PR đều là các phương thức làm marketing của thương hiệu, giữa chúng lại có những điểm khác nhau mà nhiều bạn hay nhầm lẫn.
10 điểm khác nhau giữa Quảng cáo và PR – Advertising vs Public Relations
Trong khi quảng cáo và PR (quan hệ công chúng) là hai thuật ngữ rất khác nhau, không ít người lại có những quan điểm sai lầm. Để có thể hiểu rõ bản chất của quảng cáo và PR, bạn có thể xem Quảng cáo là gì và PR là gì.
Dưới đây là 10 điểm dễ nhận thấy nhất trong số rất nhiều những điểm khác nhau giữa hai ngành Quảng cáo và Quan hệ công chúng (PR).
1. Trả tiền đăng báo hay Miễn phí
Quảng cáo: Công ty của bạn phải trả tiền cho phần “đất” quảng cáo. Bạn biết chính xác khi nào quảng cáo của bạn sẽ được đăng tải hoặc phát sóng.
PR: Việc của bạn là phải “kiếm” được các phần “đất” miễn phí cho công ty mình. Từ việc họp báo đến thông cáo báo chí, bạn phải tập trung vào việc xuất hiện trên báo một cách miễn phí dưới dạng những bài viết hoặc tin về công ty và sản phẩm, dịch vụ của mình.
2. Kiếm soát việc sáng tạo hay Không sáng tạo
Quảng cáo: Bởi vì bạn trả tiền để đăng quảng cáo, cho nên bạn có toàn quyền sáng tạo những gì bạn muốn đưa ra trong quảng cáo đó.
PR: Bạn không có quyền điền khiển việc báo chí sẽ thể hiện thông tin về bạn như thế nào hay họ có đăng cho bạn hay không. Họ không nhất thiết phải đăng tải thông tin về sự kiện của bạn hay thông cáo báo chí của bạn chỉ bởi vì bạn đã gửi đến cho họ.
3. Thời hạn
Quảng cáo: Bởi vì bạn trả tiền quảng cáo, bạn có thể đăng đi đăng lại bao lâu mà bạn muốn, chừng nào ngân sách của bạn còn cho phép. Thông thường vòng đời của một quảng cáo thường dài hơn rất nhiều so với một thông cáo báo chí.
PR: Bạn chỉ gửi một thông cáo báo chí về một sản phẩm mới của bạn duy nhất một lần. Bạn cũng chỉ gửi thông cáo báo chí về cuộc họp báo của bạn một lần. Và khả năng đưa tin trên báo dưới dạng bài viết PR cũng chỉ có thể xuất hiện được một lần. Không có bất kỳ ông tổng biên tập nào lại đăng tại cùng một thông cáo báo chí của bạn trên ba hay bốn số báo.
4. Khách hàng khôn ngoan
Quảng cáo: Khách hàng biết ngay khi họ đọc một mẫu quảng cáo là: “người ta đang tìm cách bán hàng hóa và dịch vụ cho mình đây!”
Khách hàng hiểu rằng bạn phải trả tiền để gửi thông điệp bán hàng đến cho họ, và thật không may, khách hàng thường xuyên xem những thông điệp bán hàng của bạn một cách hết sức thận trọng. Và rốt cuộc, họ biết rằng bạn đang tìm cách bán hàng cho họ.
PR: Khi một độc giả đọc một bài báo viết về sản phẩm và dịch vụ của bạn hay xem một bản tin trên ti vi, họ thường cho rằng bạn không trả tiền cho các tin này và họ xem xét, lắng nghe chúng một cách khác hẳn so với việc xem quảng cáo.
Khi bạn xuất hiện trên báo chí, truyền hình dưới dạng tin, bài độc lập, bạn có thể tạo dựng được uy tín lớn đối với khách hàng về sản phẩm và dịch vụ của mình.
Quảng cáo: Trong quảng cáo, bạn phải thử thách khả năng sáng tạo của mình trong việc tạo ra một chiến lược và chất liệu quảng cáo mới.
PR: Trong PR, bạn phải có một khả năng nhạy cảm với tin tức và có khả năng tạo ra dư luận từ tin tức đó. Bạn phải thử thách khả năng sáng tạo trong việc tạo ra một tin tức mới có khả năng thu hút sự chú ý của giới truyền thông.
6. Trong nhà hay Trên phố
Quảng cáo: Nếu bạn đang làm cho một công ty quảng cáo, các quan hệ chính của bạn là những người cộng sự và các khách hàng của công ty. Nếu bạn thay mặt khách hàng mua đất để quảng cáo và lập kế hoạch về thời gian đăng quảng cáo, thì bạn cũng chỉ phải làm việc với bộ phận khách hàng của các báo, đài.
PR: Bạn quan hệ với giới truyền thông, báo chí và xây dựng quan hệ với họ. Quan hệ của bạn không chỉ giới hạn ở việc giao tiếp “trong nhà”. Bạn luôn luôn quan hệ chặt chẽ với các “đầu mối” quan trọng tại các báo, đài.
Quảng cáo: Bạn tìm kiếm khách hàng mục tiêu của mình và quảng cáo tập trung vào nhóm đối tượng này. Chắc chắn bạn sẽ không quảng cáo đồ dành cho phụ nữ trên các tạp chí thể thao dành cho đàn ông.
PR: Bạn cần phải có quan hệ trước với các tổng biên tập hoặc biên tập viên và làm cho họ sử dụng thông tin của bạn cho các bài báo của họ, hay đăng thông cáo báo chí hoặc đưa tin về sự kiện của bạn.
8. Quan hệ hạn chế và Không hạn chế
Quảng cáo: Một số bộ phận thuộc công ty quảng cáo như phòng Kế toán có thể phải làm việc với khách hàng thường xuyên. Nhưng những người khác như đội ngũ viết lời cho các quảng cáo (copywriters) hay hoạ sỹ thiết kế có thể chẳng bao giờ tiếp xúc trực tiếp với khách hàng cả.
PR: Trong PR, bạn luôn có mặt, và giữ quan hệ với báo giới. Một chuyên gia PR không phải chỉ được người ta gọi đến khi có những tin tốt lành.
Nếu có một sự cố trong công ty của bạn, bạn có thể phải là người phát ngôn hoặc xuất hiện trước ống kính truyền hình để trả lời phỏng vấn. Bạn có thể đại diện công ty của mình như một phát ngôn viên tại các sự kiện của công ty.
Hoặc bạn có thể làm việc trong các mối quan hệ cộng đồng để làm cho công chúng thấy rằng công ty của bạn đang tham gia tích cực vào các việc tốt và cam kết đóng góp vào công việc chung của thành phố/đất nước và của người dân.
9. Các sự kiện đặc biệt
Quảng cáo: Nếu công ty của bạn tài trợ cho một sự kiện, bạn có thể sẽ không muốn bỏ tên mình ra ngoài danh sách nhà tài trợ trên phông sân khấu để chứng tỏ công ty của bạn lớn mạnh như thế nào. Đây chính là lúc để cho bộ phận PR nhảy vào việc.
PR: Nếu bạn đang tài trợ cho một sự kiện, bạn có thể phát hành một thông cáo báo chí và báo giới có thể đăng tải. Họ có thể đăng thông tin bạn gửi tới hoặc đưa tin về sự kiện.
10. Phong cách viết
Quảng cáo: Hãy mua sản phẩm này! Hành động ngay bây giờ! Hãy gọi cho chúng tôi ngay hôm nay! Đây là những gì bạn có thể nói trong một quảng cáo. Bạn muốn sử dụng những từ mạnh mẽ như thế để thôi thúc khách hàng mua sản phẩm của bạn.
PR: Bạn đang phải viết một cách nghiêm túc với một lối thể hiện tin tức “không được phép” nhạt nhẽo. Bất kỳ một thông điệp mang tính thương mại, chào hàng nào trong các giao tiếp của bạn sẽ không được giới truyền thông coi trọng.
Tham gia Cộng đồng We’re Marketer để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: Link
Xét trên cục diện hiện nay, việc Tiki và Sendo sáp nhập có thể coi là một bước liên thủ sức mạnh giữa các sàn thương mại điện tử trong nước để đấu lại đối thủ nước ngoài là Shopee và Lazada.
DealStreetAsia dẫn nguồn từ một trong những người liên quan cho biết, hai trang thương mại điện tử (TMĐT) Tikivà Sendo đã đồng ý sáp nhập. Trước đó vào tháng 2, một nguồn tin rò rỉ cũng cho biết hai bên đang đàm phán để tiến đến việc về chung một nhà.
Hiện cả 2 đều chưa lên tiếng chính thức về thông tin sáp nhập. Tuy nhiên, nếu là sự thật, có thể đưa ra 2 lý do dễ hiểu cho động thái này.
Tăng sức cạnh tranh trên thị trường
Hãy nhìn vào hai đối thủ của Tiki và Sendo trên thị trường, Shopee và Lazada. Dù cùng lọt vào top 4 sàn TMĐT lớn nhất Việt nam, nhưng các bên lại chia thành 2 nhóm với tính chất khác hẳn nhau.
Nhóm 1: Shopee, Lazada-Hoạt động từ nguồn vốn dồi dào của tập đoàn mẹ là Alibaba (Trung Quốc) và Sea (Singapore) nên liên tục được bơm vốn không ngừng.
Nhóm 2: Sendo, Tiki- Tự chứng minh năng lực để có thể huy động tiền đầu tư qua các vòng gọi vốn.
Dễ thấy sự chênh lệch tiềm lực này khi nhìn vào mức lỗ lũy kế hiện nay của các doanh nghiệp. Gia nhập muộn hơn Tiki những 6 năm nhưng đến thời điểm 2018, nghĩa là chỉ sau 2 năm vào Việt Nam, Shopee đã lỗ gấp đôi Tiki. Và các đối thủ ngoại đều không có ý định dừng đốt tiền trong cuộc chiến này.
Trong một cuộc phỏng vấn với VTV, ông James Dong, Tổng giám đốc Lazada Việt Nam cho biết: “Tập đoàn mẹ của chúng tôi dùng một phần nguồn lợi nhuận dồi dào từ thị trường TMĐT Trung Quốc để đầu tư vào Việt Nam. Miễn là chúng tôi đang phục vụ tốt người dùng và nhà bán hàng thì thời gian là bạn của chúng tôi”.
Nếu Tiki và Sendo sáp nhập thành công, thị trường sẽ là cuộc đua tam mã giữa Shopee, Lazada và Tiki-Sendo.
Ông Nguyễn Ngọc Dũng, Phó chủ tịch Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (Vecom), từng nhận định hồi tháng 2 rằng thương vụ này là một tín hiệu tốt cho thị trường, bởi họ sẽ bổ trợ, hỗ trợ nhau để tăng sức mạnh, tăng sức cạnh tranh. Sendo có những lợi thế ở thị trường nông thôn, ngoại thành, trong khi Shopee, Lazada, Tiki đang tập trung ở các đô thị lớn.
“Giả sử 2 doanh nghiệp này sáp nhập thì sẽ tạo ra một doanh nghiệp TMĐT nội đủ năng lực để cạnh tranh với doanh nghiệp ngoại. Từ đó, Việt Nam mới làm chủ được những ngành công nghiệp tương lai như TMĐT”, ông Dũng bình luận.
Thích nghi với môi trường đầu tư đang biến đổi và xu hướng của thế giới
Cạnh tranh càng gay gắt đòi hỏi mức độ đầu tư ngày càng cao, nhất là trong một ngành như TMĐT, cần bơm tiền liên tục để giữ chân đối tác và khách hàng. Tuy nhiên xu hướng chuyển dịch khẩu vị của các quỹ đầu tư mạo hiểm sẽ phần nào ảnh hưởng đến startup dựa vào gọi vốn để tăng trưởng như Tiki hay Sendo.
Điều này đã được chứng minh qua câu chuyện của Leflair, startup đánh vào ngách thị trường TMĐT là bán hàng hiệu theo kiểu chớp nhoáng. Cùng cách thức gọi vốn như Tiki hay Sendo, từng được đầu tư rót đến 12 triệu USD nhưng Leflair đã phải tạm dừng hoạt động mà nguyên nhân CEO cho biết là do họ không thể gọi thêm vốn.
Ông Loic Gautier, cựu Tổng giám đốc Leflair chia sẻ với VTV: “Đang có 1 sự chuyển dịch trên thị trường vốn thế giới, các nhà đầu tư giờ muốn rót vốn vào những công ty có lợi nhuận hơn, điều đó khiến startup chưa sinh lời trong ngắn hạn gặp khó khi gọi vốn”.
Theo thông tin trên Reuters, sau cú sốc mang tên WeWork, làn sóng bùng nổ của các kỳ lân công nghệ tại Châu Á đã giảm dần trong năm 2019 cả về số lượng lẫn tốc độ gọi vốn. Còn số liệu từ PitchBook Data (công ty cung cấp dữ liệu, nghiên cứu và công nghệ bao gồm các thị trường vốn tư nhân, bao gồm đầu tư mạo hiểm…) thì chỉ có 23 công ty khởi nghiệp đạt giá trị tỷ USD trong năm 2019, con số này chỉ bằng một nửa so với năm 2018. Tốc độ gọi vốn cũng giảm 36% về số vụ và quy mô giảm 2/3.
Khi khẩu vị và độ chịu chi của nhà đầu tư thay đổi, phương án sáp nhập cũng có thể là “kịch bản” tốt cho cả Tiki và Sendo, vừa tăng sức hấp dẫn khi gọi vốn các vòng tiếp theo, vừa tái cơ cấu để hoạt động hiệu quả.
Nhìn trên bình diện rộng hơn, mua bán sáp nhập cũng là xu hướng của ngành TMĐT toàn cầu. Để có vị thế thống lĩnh thị trường TMĐT thế giới như hiện nay, Amazon đã mua lại, sáp nhập hơn 100 công ty khác nhau. Trong đó có những thương vụ nổi bật như Amazon mua lại công ty bán giày và quần áo Zappos với giá 1 tỷ USD hay trang bán sản phẩm trẻ em Quidsi với mức 500 triệu USD.
Theo giới đầu tư, thị trường Việt Nam cũng sẽ đi theo hướng này.
Ông Yoshihiro Ishawata, Phó chủ tịch quỹ đầu tư SBI Venture Capital cho biết: “Chúng tôi tin rằng thị trường TMĐT Việt Nam đã bước vào giai đoạn tập trung thị phần vào 4 doanh nghiệp mạnh nhất. Thời gian tới sự cạnh tranh giữa 4 doanh nghiệp sẽ gay gắt hơn nữa. Các thương vụ mua bán sáp nhập sẽ diễn ra để rồi chỉ còn 2, 3 cái tên trụ lại, chiếm thị phần lớn nhất”.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Có lúc công ty tập trung vào một loại sản phẩm duy nhất mang lại nhiều lợi nhuận nhất. Ngay sau đó, cũng chính công ty lại trải mỏng ra sản xuất thêm nhiều loại sản phẩm và thua lỗ.
Thử lấy trường hợp IBM
Nhiều năm trước đâu, khi IBM đặt trọng tâm vào việc sản xuất máy vi tính lớn (mainframe), công ty kiếm được hàng tấn tiền.
Ngày nay, IBM tham dự vào mọi thứ và công ty vừa vặn vốn. Như vào năm 1991, doanh thu của IBM là 65 tỷ USD. Rốt cuộc công ty lỗ 2,8 tỷ USD, gần 8 triệu USD mỗi ngày.
Thêm vào việc bán máy vi tính loại lớn, IBM tiếp thị máy tính cá nhân, máy vi tính cho các cơ sở, phần mềm, hệ thống máy vi tính điện thoại…IBM lại còn thử nhảy vào sản xuất vi tính dùng tại nhà (home computers) kiểu mới.
IBM đã ném hàng triệu USD vào việc sản xuất máy Photocopy (sau đó bán lại cho Kodak); Rolm (bán lại cho Siemens), hệ thống vệ tinh kinh doanh sập (sập tiệm).
Khi một công ty đạt được thành công quá lớn, luôn luôn tự tạo ra mầm mống rắc rối trong tương lai.
Lấy trường hợp Microsoft, công ty thành công trong lĩnh vực phần mềm vi tính. (dù chỉ có 1/58 kích cỡ của general Motors, nhưng phiếu của nó giá trị hơn GM rất nhiều). Chiến lược của Microsoft là gì? Có thể tóm gọn trong một từ: More (thêm nữa).
Nhật báo Wall Street Journal viết: “Microsoft Corp đang hăng hái tìm cách ngự trị cả việc ứng dụng phần mềm chính trong lĩnh vực máy vi tính cá nhân”. Micheal Maples, chủ tịch thứ nhất phụ trách bộ phận ứng dụng của Microsoft cho rằng “Công ty có thể chiếm tới 70% thị trường phần mềm ứng dụng”.
Giọng điệu này giống ai nhỉ? Âm hưởng giống IBM. Microsoft đang tự mình tổ chức hoạt động như IBM đã làm, với tất cả những gợi ý tiêu cực.
Microsoft là người dẫn đầu trong lĩnh vực vi tính cá nhân, nhưng nay lại đang theo đuổi các lĩnh vực hoàn toàn lạ lẫm Preadsheet (chương trình kế toán vi tính) do Lotus dẫn đầu, Word Processing do WordPerfect dẫn đầu và Business graphics ( Biểu đồ kinh doanh) do Harvard dẫn đầu.
Microsoft tiếp tục tự căng phồng mình bàng cách bành trướng các lĩnh vực mới. vừa mới đây, Microsoft mua lại công ty Fox Software với giá 170 USD (bạn có thể đánh cá là công ty sẽ khai tử tên Fox thành Microsoft).
Có nhiều dấu hiệu đe dọa cho sự yếu kém chiến lược của Microsoft. Báo Economics, đầu năm 1992 có viết: “ông Gate đang sắp đặt một loạt cá sản phẩm với nhau dựa vào ông nghệ chung.
Công việc này sẽ cạnh tranh trong toàn thể công nghệ phần mềm vi tính: từ máy vi tính lớn cho đến máy vi tính nhỏ, từ hệ thống cơ sở dữ liệu tới các chương trinh đồ biểu.
Không có ai trong nền công nghệ phần mềm đã làm được việc kinh doanh mạo hiểm đầy phức tạp này. Mặc dù IBM đã thử làm và đã thất bại”.
Một khi bạn cố gắng làm mọi thứ cho tất cả mọi người, bạn sẽ không tránh được các rắc rối xảy đến. Một nhà quản trị đã nóiL Tôi thà mạnh ở một nơi còn hơn là yếu ở mọi nơi.”
Với một nghĩa hẹp, mở rộng sản phẩm liên quan tới việc lấy tên của một sản phẩm thành công (ví dụ: A-1 Steak sauce) và đặt nó cho sản phẩm mới bạn dự tính giới thiệu (ví dụ A-1 Poultry sauce).
Nghe có vẻ hợp lý đấy. “chúng ta lấy tên A-1, một loại nước sốt chấm thịt bò nhưng vì người ta đang có khuynh hướng ăn thịt gà nhiều hơn thịt bò, vậy hãy làm nước sốt thịt gà. Và có tên nào tốt hơn A-1, người ta sẽ biết là nước sốt chấm thịt gà do cùng một nhà sản xuất sốt chấm thịt bò làm ra”.
Nhưng mà marketing là trận chiến của nhận thứ chứ không phải sản phẩm. Trong tâm trí khách hàng, A-1 không phải là tên nhãn hiệu mà là tên nước chấm thịt bò. Khách hàng thường nói: “cho tôi chai A-1” và không có ai phải hỏi lại “A-1 là cái gì?”.
Có rất nhiều cách mở rộng sản phẩm, nhiều như là các hành tinh trong vũ trụ vậy. và hàng ngày đều có một cách mới được nghĩ ra. Về lâu dài, và với sự cạnh tranh nghiêm trọng, việc mở rộng sản xuất thêm sản phẩm không bao giờ thành công.
Tạo ra nhiều mùi vị là cách thông dụng nhất để cố gắng chiếm thêm thị trường. nghe có vẻ đúng nhưng thực sự lại không như vậy.
Trở lại năm 1978, khi 7-up chỉ có mùi vị nước chanh không có chất cola, nó chiếm được 5-7% thị trường đồ uống không có rượu. rồi thì hãng có thếm vào 7-up Gold (7-up vàng), Cherry 7-up (7-up vị anh đào). Ngày nay, 7-up chỉ còn có 2,5% thị phần.
Nhìn vào bất cứ nơi nào bạn đều thấy dấu ấn của việc mở rộng sản phẩm. đó cũng chính là ly do tại sao các cửa hiệu chật ứ với các nhãn hiệu (có 1300 loại dầu gội đầu, 200 loại thức ăn sáng làm từ ngũ cốc, 250 loại đồ uống không có rượu).
Một điều bất di bất dịch, bất cứ thương hiệu dẫn đầu một loại sản phẩm nào đều là loại thương hiệu không mở rộng thêm sản phẩm. lấy ví dụ thức ăn cho trẻ em.
Hãng Gerber chiếm 72% thị trường, bỏ xa hai hãng Beech-Nut và Heinz, là hai nhãn hiệu mở rộng sản phẩm.
Mặc cho bằng chứng là mở rộng sản phẩm không thành công, các công ty vẫn tiếp tục làm việc này. Đây là một vài ví dụ:
Xà bông Ivory. Dầu gội Ivory?
Kẹo Life Savers. Kẹo cao su Life Savers?
Quẹt ga Bic. Vớ phụ nữ Bic?
Nước hoa Chanel, nước hoa Chanel dành cho quí ông?
Rượu Tanqueray. Rượu Vodka Tanqueray?
Bia Coors. Nước uống Coors?
Tương cà chua Heizn. Thức ăn dành cho trẻ em Heizn?
Báo USA Today. “USA Today trên TV”?
Giày thể thao Adidas. Nước hoa Adidas?
Quần áo Pierre Cardin. Rượu Pierre Cardin?
Quần jeans Levi’s. Giày Levi’s?
Ed Fogarty, chủ tịch hãng Colgate-Palmolive nói: “ chúng tôi muốn nâng nhãn hiệu căn bản của chúng tôi lên và gắn nhãn hiệu này lên các sản phẩm mới”.
David W.Johnson, tổng giám đốc hãng súp Cambell: “tăng cường và mở rộng phẩm chất cao, dùng nhãn hiệu hiện có cho các sản phẩm mới hơn là phát hiệu nhãn hiệu mới”.
Chủ tịch công ty Del Monte: “chúng tôi nỗ lực một cái tên duy nhât, chúng tôi đang nới rộng cái tên Del Monte cho các loại sản phẩm mới”
Deniel Abraham. Chủ tịch công ty Ultra Slim-Fast: “Sẽ có các loại xúp, mì ống, nước trộn salat, nước soda, nước trái cây và các loại thức uống kiêng được gọi là Slim-Fast Plus”. (Chúc may mắn và chúc ông Abraham ngủ ngon).
Tại sao các cấp quản trị cao nhất lại tin tưởng rằng việc mở rộng sản phẩm sẽ thành công mặc cho những bằng chứng xảy ra trái ngược hẳn? Một lý do là việc mở rông sản phẩm sẽ thua lỗ về lâu dài nhưng lại thắng lợi trong ngắn hạn (Điều 11: Luật triển vọng).
Ban giám đốc cũng bị mờ mắt vì những sự trung thành cực kỳ với công ty hay nhãn hiệu. Tại sao công ty Pepsi có thể đưa sản phẩm Crytal Pepsi hay là sự thất bại của Pepsi Light và Pepsi AM chưa đủ sức thuyết phục?
Nhiều hơn chính là ít đi.
Nhiều sản phẩm hơn, tiền kiếm được sẽ ít hon. “Tăng hết tốc độ về mọi hướng”. hình như đó là lời kêu gọi của các công ty. Khi nào các công ty mới thuộc được bài học là mở rộng sản phẩm chính là con đường dẫn đến sự lãng quên?
Ít là nhiều hơn. Ngày nay nếu bạn muốn thành công, bạn phải thu hẹp trọng tâm để tạo được một chỗ đứng trong tâm trí của khách hàng.
IBM là đại diện của cái gì? Nó đã từng là đại diện lĩnh vực máy vi tính lớn (mainframe computer). Ngày nay nó là mọi thứ khác,nghĩa là không gì cả.
Tại sao công ty Sears, Roebuck gặp rắc rối? bởi vì họ muốn tất cả mọi thứ cho tất cả mọi người. Hãng Sears rất thành công trong việc kinh doanh các mặt hàng cứng (máy móc), rồi thì nó chạy qua kinh doanh hàng mềm và thời trang.
Công ty lại còn thuê cả người mẫu Cheryl Tiegr. (không biết các cô người mẫu thời trang có thực sự mua váy túm ngắn của họ ở các cửa hàng Sears hay không?).
Trong cái nhìn ước lệ, một chiến lược kinh doanh phải bao gồm việc khuếch trương tất cả mọi tầm nhìn. Nói cách khác, loại ý niệm hay ý kiến nào đủ lớn để bao trùm tất cả các sản phẩm và dịch vụ của công ty cho thị trường hiện tại và dự tính cho thị trường tương lai?
Trong cái nhìn ước lệ chiến lược là một cái lều vải lớn. Bạn phải căng cái lều cho đủ lớn để nó có thể giữ tất cả những gì bạn muốn trong đó.
IBM đã dựng một cái lều máy vi tính rất to. KHông có gì thuộc về lĩnh vực vi tính ngày nay cũng như tương lai lọt ra ngoài cái lều vải của IBM (the IBM tent).
Đây là một công thức của thảm họa. Một khi các công ty mới, sản phẩm mới, ý tưởng mới xâm nhập đấu trường vi tính như một cơn gió, IBM sẽ bị thổi bay mất.
Bạn không thể bảo vệ một thị trường máy vi tính đang tăng trưởng, ngay cả khi bạn mạnh kinh khủng về tài chính như IRM. Trên quan điểm chiến lược bạn phải tuyển lựa, nắm bắt và lựa chọn cẩn thận từng lĩnh vực để căng cái lều của bạn lên.
Về tính chiến lược, General Motors cũng là hội đồng thuyền với IBM. GM đã không bỏ qua bất cứ cái gì và tất cả cái gì lăn trên bánh xe.
Xe du lịch, xe thể thao, xe rẻ tiền, xe mắc tiền, xe chở hàng lớn, xe chở các loại nhỏ, ngay cả xe chạy bằng điện. Vậy thì chiến lược của GM là cái gì? Nếu cái gì đó lăn được trên đường là họ rượt theo.
Đối với nhiều công ty, mở rộng sản phẩm là một cách dễ dàng nhất. Phát động một nhãn hiệu mới không những cần tiền bạc mà còn phải có ý kiến hay ý niệm.
Các công ty đợi cho đến khi có một thị trường mới được triển khai thì hai vị trí đứng đầu đã có người chiếm mất rồi. Vì vậy họ lại quay trở lại với chiều hướng mở rộng sản phẩm cũ.
Phương thuốc trị bênh mở rộng sản phẩm là sự can đảm của công ty, một mặt hàng hiếm hoi trong thời buổi hiện nay.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Người trẻ xứ sở kim chi, họ nghe quá nhiều những câu kiểu như “Ở cái thời của tôi ấy mà…”. Thậm chí, các bạn còn cảm thấy sợ sệt, lo lắng trước những bậc “cha chú”. Dần dần, nỗi ám ảnh này đã trở thành văn hoá khó bỏ chốn công sở ở Hàn Quốc.
Chuyện “ma cũ – ma mới” trong công ty không phải là đề tài quá mới. Ở đâu cũng vậy chứ chẳng riêng gì chốn công sở, ấy là khi cấp bậc, địa vị, tuổi tác… phân cấp ra cũng sẽ kéo theo nhiều mâu thuẫn. Nhưng ở Hàn Quốc, vấn nạn này còn đáng sợ hơn rất nhiều.
Một văn hóa “ngầm” chốn công sở khiến giới trẻ khiếp đảm mỗi khi nhắc đến là “Kkondae”. Vậy văn hóa này là gì, và nó đã ảnh hưởng ra sao tới các mối quan hệ?
Kkondae – văn hóa “trọng già khinh trẻ”
Ở Hàn Quốc có nhiều khái niệm về các thế hệ, phân ra theo lứa tuổi. Ví dụ như thế hệ Millenial (gồm những người từ 19 – 40 tuổi), hay thế hệ “88 vạn won”, thế hệ “sampo” để chỉ những người sinh ra, lớn lên trong thời kỳ khủng hoảng tài chính 1997, 2008.
Nhưng còn một thế hệ lớn tuổi hơn, và cũng đáng sợ hơn, mang tên “Kkondae” – thế hệ “lão làng”. Có lẽ văn hóa công sở này đã mượn tên của chính những người lớn tuổi như vậy.
Nói tóm lại, văn hóa “Kkondae” thể hiện sự nhún nhường, hạ mình của lớp trẻ với bậc cao tuổi. Hiểu theo cách khác, nó còn là sự phân cấp trong công việc, tức là khi tuổi đời, tuổi nghề của bạn thấp, bạn bắt buộc phải tỏ ra kính trọng đối với đàn anh.
Trải qua bao năm tháng, văn hóa “Kkondae” dần dần quy về đàn ông và hầu như toàn mang ý nghĩa tiêu cực, khi vấn nạn bắt nạt, chèn ép công sở ngày một tăng. Trước đây, từ “Kkondae” được dùng khi học sinh ví giáo viên của mình là những người nghiêm khắc, độc đoán.
Quả thực, bậc đàn anh sẽ không bao giờ lắng nghe bất cứ một ý kiến nào đến từ lớp trẻ. Họ gạt bay mọi suy nghĩ phản pháo và yêu cầu một sự phục tùng tuyệt đối.
Những câu chuyện khó nói về Kkondae của giới trẻ Hàn Quốc tại công ty
“Ở cái thời của tôi ấy mà…” có lẽ là câu nói phổ biến nhất các bậc đàn anh hay răn dạy cấp dưới. Theo tờ Economist có ghi, thế hệ lão làng này được sinh trong thời kỳ chiến tranh Hàn Quốc kết thúc, mở ra một xã hội dân chủ hóa lẫn công nghiệp hoá.
Lúc ấy, mọi thứ họ được định hướng là phải học tập, rèn luyện hết mình, đi theo một con đường sự nghiệp chuẩn mực để cống hiến cho đất nước phát triển từng ngày. Từ lý do này, họ luôn viện cái cớ thời của họ vất vả, lao lực để rập khuôn toàn bộ lớp trẻ đi sau.
Lee Beyoung Hoon, giáo sư xã hội học tại Đại học ChungAng cho biết, đối với những người thuộc thế hệ “bùng nổ sơ sinh” (Kkondae), mục tiêu, định hướng trong công việc còn lớn lao hơn tất thảy những dự định cá nhân. “Với lòng tự tôn dân tộc cao, ưu tiên phát triển kinh tế luôn được đặt lên hàng đầu. Vì thế, họ đặc biệt trung thành với công việc.”
Ahn Da Young, một chàng thanh niên trẻ cho hay “Thế hệ chúng tôi chỉ coi công việc như một phần cuộc sống, chẳng qua cũng chỉ là công cụ kiếm tiền. Vì sao cấp trên lại coi sự nghiệp như tính mạng và quá đỗi quan trọng đến thế?”
Nhưng chính vì tư tưởng “quân phiệt” này gây ra sự bức bối cho người trẻ. Họ không được sống đúng với lứa tuổi, với thế hệ, với sự thay đổi của nhân loại mà luôn phải gồng mình lên để hứng chịu những chỉ trích của đàn anh.
1001 việc vặt bị giao cho người trẻ phải kể đến như lúc nào cũng ghi chú lại hết nội dung cuộc họp, đặt bàn trước và tỏ ra hào phóng mời sếp đi ăn hay phân phát thìa đũa, “cơm bưng nước rót” để đàn anh khỏi phật lòng.
Khoảng cách thế hệ rút ra từ văn hóa Kkondae còn được minh chứng bởi cách xưng hô. Người Hàn Quốc sẽ không gọi cộc lốc mỗi tên mà thường chỉ gọi chức danh (trưởng phòng, giám đốc, phó phòng, chủ tịch…), hoặc cùng lắm là gọi tên kèm theo chức vụ. Phân cấp rất rõ ràng như vậy dường như làm cho đồng nghiệp, sếp – nhân viên khó xích lại gần nhau để thấu hiểu nhau hơn.
Mặc dù Kkondae trở thành một văn hóa khó bỏ chốn công sở Hàn Quốc nhưng thế hệ trẻ vẫn tin rằng trong tương lai mọi thứ có thể thay đổi. Giờ đây, ngoài Kkondae thì một thuật ngữ mang tính tích cực cũng xuất hiện. Đó là “Worabel” – viết tắt của “Work Life Balance”, hiểu nôm na nghĩa là cân bằng giữa công việc và cuộc sống.
Bên cạnh đó, nhiều công ty cũng đưa ra các chính sách giúp nhân viên thoải mái hơn với rào cản thế hệ. Có thể kể tới là gọi nhau bằng tên hay nhân viên cấp dưới được từ chối đi ăn cùng đàn anh.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Cổ phiếu của Facebook đã đạt mức cao nhất mọi thời đại là 230,75 đô la vào ngày thứ Tư (20.5), tăng vọt tới 6,4%.
‘Gã khổng lồ’ truyền thông xã hội đã công bố Cửa hàng Facebook (Facebook Shops) vào 19.5.2020, điều này sẽ giúp việc liệt kê các sản phẩm lên Facebook và Instagram được dễ dàng hơn. Các cổ phiếu kết thúc ngày đã tăng hơn 6%.
Các nhà đầu tư cũng đã ‘vào cuộc’ với hàng loạt nội dung được chia sẻ trên Facebook, bắt đầu với việc Morgan Stanley, một ngân hàng đầu tư của Mỹ viết trong một ghi chú vào 20.5 rằng: “Việc Facebook ra mắt Facebook Shops có thể khiến Facebook trở thành đối thủ cạnh tranh với Amazon và Google. Các “cửa hàng” này cũng thể hiện mình là một cơ hội hàng tỷ đô la”.
Một nhà phân tích khác có viết: “Chúng tôi nghĩ rằng Facebook Shops trong một trường hợp tăng giá đơn giản có thể mang lại cơ hội doanh thu lên tới 30 tỷ đô la, thông qua sự kết hợp giữa tỉ lệ giao dịch và doanh thu quảng cáo”.
AB Bernstein, Công ty chuyên về nghiên cứu và đầu tư cũng cho biết trong một lưu ý tới khách hàng của mình vào đầu ngày 20.5 rằng Facebook Shops có thể “mở khóa” một thị trường trị giá 1,3 nghìn tỷ đô la.
Một nhà phân tích tài chính khác cũng cho biết: “Đã từ rất lâu rồi, chúng tôi đã coi Facebook như là một ‘người cho thuê’ nền kinh tế số và là thành phần cốt lõi của hệ sinh thái bán lẻ trực tuyến”.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
“Tôi mất hơn 5 tiếng để nghĩ và viết cái note này, vì thế bạn đừng tiếc 5 phút ngồi đọc vì biết đâu 1 ngày nào đó bạn cũng sẽ mở công ty. Chắc chắn note này sẽ giúp bạn rất nhiều đấy”.
– TS Alan Phan
Những gì tôi sắp viết bạn sẽ không thấy trong sách nào hay báo chí nào, mong rằng sau bài này sẽ có nhiều người cân nhắc cơ hội nghiệp của mình là khởi nghiệp (Startup).
Vì những người viết báo khởi nghiệp không phải là những người khởi nghiệp, có phỏng vấn đại gia thì người ta cũng sẽ trả lời kiểu trả lời báo chí và những đại gia thường bận quá chẳng chịu viết.
Nếu họ có viết sách thì khi đó họ đã quá thành công và không còn nhớ cái tâm trạng và hiểu biết của họ thời chập chững như nào nữa. Tôi nghĩ rằng bài này rất hợp với nhiều người vì tôi đang ở trong đúng cái chân núi đó, tiền không nhiều, mắc sai sót hàng ngày nhưng cũng có trải nghiệm và thành tựu nhất định.
1. TẠI SAO TÔI LẠI ỦNG HỘ BẠN KHỞI NGHIỆP
Vì 1 nền kinh tế luôn cần có những người giải quyết những vấn đề ngổn ngang, luôn cần những sản phẩm dịch vụ mới. Khởi nghiệp thì tất cả thời gian là của bạn, thích làm lúc nào thì làm, bạn sẽ giàu, rất giàu, siêu siêu giàu nếu thành công. Nhưng chuyện không dễ như thế, bạn sẽ có thể mất nhiều tiền, tuyệt vọng, gia đình mắng chửi…
Tôi biết rất nhiều người khởi nghiệp nhưng không như ý và mất mát rất nhiều, nhưng qua đó họ đều trưởng thành hơn, không có gì là thất bại nếu như mình học được từ nó. Không có thất bại, tất cả chỉ là thử thách – tên 1 quyển sách rất nổi tiếng của chủ tịch HuynDai. Bạn chỉ cần đúng 1 tố chất là có thể trở thành doanh nhân được, đó là yêu thích giải quyết vấn đề, còn lại mọi thứ khác đều học và luyện tập được bằng ý chí và quyết tâm.
Có thể bạn không biết chứ 1 người làm chủ như xôi Yến (1 cửa hàng xôi gần hồ Gươm, trên đường Nguyễn Hữu Huân) 1 tháng cũng phải bỏ túi 4-500 triệu đồng tiền lãi. Hoặc 1 chị học FTU chỉ mới K44-1987 mà đã tự mua được 1 cái nhà trên Kim Mã 5 Tỷ nhờ mở Take One. Anh Điệp -CEO Vật Giá sinh năm 1979-FTU K36- tài sản giờ cũng tầm vài trăm tỉ và còn rất nhiều thành phần đại gia âm thầm khác…
Thế giới của những người khởi nghiệp thường không được nhiều người biết đến vì không có trường nào dạy, cũng không bao giờ được in trong quyển Những Điều Cần Biết về Tuyển Sinh. Đại học là dạy nghề để làm thuê. Các phụ huynh thì luôn muốn con mình “ổn định”, nhưng sự thật là nghèo ổn định, biết bao giờ mới mua được cái nhà cái xế hộp ở Hà Nội chật chội này đây.
2. DOANH NHÂN KHỞI NGHIỆP LÀ NHƯ THẾ NÀO
Để làm 1 cái gì đó thành công thì mình phải thật rõ cái hình ảnh mà mình muốn trở thành. Doanh nhân không phải là người có nhiều tiền, được gọi là doanh nhân có từ “nhân” đằng sau thì họ phải theo 1 cái gì đó lớn hơn chính sự thoả mãn giàu sang của bản thân. Khởi nghiệp là để thoả mãn ước mơ, đam mê và vì những gì xung quanh xã hội mình đang sống.
Cái tên của họ vẫn còn mãi sau khi họ chết đi, điều đó mới thực sự đáng mơ ước. Họ luôn cân nhắc môi trường và lợi ích của người tiêu dùng với từng sản phẩm và dịch vụ của họ. Làm ra tiền bằng mọi cách chính đáng chứ không phải bằng mọi giá.
3. CẦN CHUẨN BỊ GÌ ĐỂ KHỞI NGHIỆP
Vượt qua rào cản tâm lý để bắt đầu:
Người Việt Nam không có thói quen chào đón với thất bại, họ không muốn con mình làm 1 cái gì đó mạo hiểm và họ sẽ bằng mọi cách ngăn cản. Gia đình thường muốn con mình “tập trung học” mà không biết rằng trường đại học cũng chẳng dạy gì giúp cho nghề nghiệp nhiều.
Bạn phải “tập” cho bố mẹ quen với việc không thể can thiệp được tương lai con mình nữa, xác định cho gia đình biết trước là khởi nghiệp sẽ có thể mất tiền và mất nhiều thứ vì thế không nên dày vò con khi ngã và hãy để cho con ngã vài lần con sẽ tự đứng lên đi tiếp (Cách tốt hơn là đừng cho bố mẹ biết).
Rào cản tiếp theo là giới hạn của chính bản thân các bạn. Bạn có 1 ý tưởng bạn cho là siêu phàm, bạn dành vài tháng để nghĩ về nó nhưng cũng chẳng dám làm gì với nó vì “ngại”, bạn quá thoải mái với vòng an toàn của mình, và bạn tự thuyết phục bản thân mình rằng là mình chưa đủ chín để thực thi ý tưởng này.
Để vượt được rào cản này thì bạn phải tập được cho mình thói quen luôn và ngay, nói theo ngôn ngữ trẻ hiện nay là “thích thì nhích”. Bằng mọi giá từ bỏ thói quen trì hoãn, nếu để tới mai thì sẽ còn ngày kia và tuần sau, tháng sau và không bao giờ nữa.
Còn về việc thiếu nguồn lực thì bạn nên biết rằng khởi nghiệp là lúc nào bạn cũng thiếu thốn nguồn lực, làm ít thiếu ít làm nhiều thiếu nhiều. Thời điểm tốt nhất là hôm nay chứ không phải ngày mai. Hành trình vạn dặm bắt đầu từ chỉ 1 bước đầu tiên, muốn tắm nước lạnh thì phải dội nước vào chân mình trước đã. Đúng là nếu muốn vấp ngã thì chỉ nên chọn lúc mình đang còn trẻ và sung sức để đứng dậy được, chẳng có thời gian nào tốt hơn thời gian sinh viên này đâu. Nghĩ nhiều mà không làm thì cũng giống như người làm mà không nghĩ.
4. HỌC GÌ TRƯỚC TIÊN: Giao tiếp – Bán hàng
Bài học đầu tiên là phải biết quý trọng đồng tiền để thấy bố mẹ làm ra tiền vất vả như thế nào. Giao tiếp là kỹ năng sống còn để thành công, còn bán hàng là kĩ năng sống còn của doanh nhân. Hãy tham gia 1 công việc bán hàng nào đó mà cần mình phải vượt qua ngại ngùng nói trước đám đông và biết chấp nhận sự từ chối của người khác 1 cách vui vẻ, học được cái tinh thần không bỏ cuộc là cực kỳ quan trọng. Khi khởi nghiệp thì đích thân chủ cũng là người bán hàng, kế toán, quét dọn, sản xuất …
Bán hàng là 1 nghề vinh quang vì họ nuôi sống cả tổ chức, hãy luôn coi mỗi lần bán hàng là 1 thử thách mình cần chinh phục. Tập bán thật nhiều các loại hàng hoá có thể vào để hiểu được cách tiếp cận với khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức khác nhau như nào. Tôi còn nhớ có lần xách rượu cần tới từng phòng ký túc xá Xây Dựng hỏi bán hồi gần tết, phòng nào cũng thích lắm nhưng toàn đứa hết tiền chẳng thèm mua. )).
Nghĩ lại hồi ấy thì cũng ngại ngùng thật. Bất kể việc bạn làm nó “chuối củ” đến đâu thì sau này vẫn luôn là 1 kỉ niệm đẹp, vì thế đừng ngại làm những thứ mình chưa bao giờ làm.
5. BẮT ĐẦU KINH DOANH NHỎ
Khi đã “mặt dày” thì hãy bắt đầu làm những việc mà cần mình phải bắt đầu làm 1 việc nào đó mà mình phải đứng mũi chịu sào lo toan toàn bộ. Nhớ câu thần chú “start small, really small”. Một số người thích kinh doanh và có 1 ý tưởng hay thường có 1 kiểu khởi nghiệp hài hước là dồn toàn bộ tiền của mình vào khởi nghiệp và làm cho nó thật hoành tráng tử tế. Họ đâu biết rằng 99,99% phi vụ kinh doanh đầu tay là sẽ thất bại.
Không phải vì ý tưởng tồi mà do khả năng thực thi của họ không tốt. Làm 1 vài phi vụ kinh doanh nhỏ sẽ dạy cho bạn những bài học rất ngấm về tiếp thị, vận chuyển hậu cần (logistic), chọn địa điểm (location), trang trí, bán hàng, đàm phán, mua hàng, chuẩn bị và lập kế hoạch, giữ được tinh thần chiến đấu không bỏ cuộc…
Học bơi thì phải uống chục lít nước trong bể mới thành được, chỉ đọc sách không làm bạn trở thành doanh nhân, phải đích thân xông pha. Street-smart là cực kỳ quan trọng, cũng quan trọng như book-smart vậy (xin lỗi vì phải dùng thuật ngữ tiếng Anh vì tiếng Việt diễn giải rất dài).
Nhiều giảng viên môn kinh doanh của đại học Việt Nam tệ là vì họ không gần doanh nghiệp, những gì họ dạy thường từ sách, và số ít họ là kinh doanh 1 cái gì đó thực sự nên đừng trông chờ gì từ nền giáo dục đại học mà khởi nghiệp. Bạn học về “chiến lược”, “thương hiệu”… toàn là thứ dùng cho doanh nghiệp lớn.
Doanh nghiệp khởi sự thì cái cần dùng khác sách giáo trình rất rất nhiều. Bạn có thể bắt đầu nhỏ như bán hoa 8/3, to hơn có thể mua quần áo về bán online…và nên bắt đầu bằng 1 nhóm vài người chứ không nên làm 1 mình để học cách làm việc nhóm nữa.
Một phần rất quan trọng là phải bắt đầu xây cho mình 1 hệ sinh thái khởi nghiệp. Không nên nghe lời, không nên ở gần những người có tư tưởng ổn định và an nhàn, họ sẽ cố dìm bạn xuống cho “ổn định” được như họ, họ sẽ nói cả ngàn lý do rằng bạn sẽ không thành công và ý tưởng của bạn không đáng giá.
Tìm những người bạn muốn khởi nghiệp và những anh chị đã khởi nghiệp để học hỏi. Chỉ có những người khởi nghiệp mới nâng đỡ và mang lại niềm vui cho nhau lúc trái gió giở trời.
Bên cạnh họ bạn sẽ thấy khó khăn nhẹ đi và thử thách sẽ trở nên thú vị hơn. Có những bài học không cần phải trả giá vẫn học được. Và không có người hướng dẫn thì bạn sẽ đi rất chậm. Đợi khi ra trường có công việc “ổn định” và thu nhập mới khởi nghiệp? Không. Bạn chẳng cần kinh nghiệm từ các tập đoàn bằng khả năng xoay sở của bạn kìa.
Đọc sách, đọc nhiều sách về kinh doanh và khởi nghiệp. Tôi đọc và nghe audiobook cũng phải 3-400 quyển. Gần như tất cả những gì tôi làm và định làm là sách đã mang cho tôi ý tưởng hết cả rồi. Các doanh nhân tỷ đô cũng đọc cực kì nhiều sách. Sinh viên chỉ hay chăm đọc k14, những từ mà người ta đọc nhiều nhất chắc là “lộ hàng”, “hiếp dâm”, “chân dài”… 1 tháng hãy đọc lấy 1 quyển sách, giảm thời gian đọc những thứ giải trí và chỉ thỏa mãn trí tò mò.
6. KINH DOANH THẬT SỰ
Thời điểm bạn đã có 1 ý tưởng tiềm năng đã đến và bạn muốn bắt tay vào làm cho nó thành 1 gia tài . Lúc này là tiền thật và người thật, không còn mang tính lướt sóng như trước nữa. Vì không biết được những điều sắp tới này nên rất nhiều bạn trẻ đã phá sản trong tức tưởi và tiếc nuối. Hãy tự viết nó lên tường và nhắc mình không được quên.
Oh yeah! Ý tưởng của mình trị giá cả triệu đô ấy chứ!
Luôn bắt đầu kinh doanh bằng việc thử nghiệm sức sống của ý tưởng trước. Bắt buộc. Bạn có ý tưởng làm đồ ăn chay giao tận nhà thì đừng vội mua đồ đạc bàn ghế đầu tư website vội. Hãy thử xem thị trường của bạn rộng đến mức nào và khả năng cung ứng của bạn đến mức nào.
Làm thử 1 cái blog, quảng cáo quanh khu văn phòng mình, tự nấu nướng tại nhà và giao đi. Từ ý tưởng đến thực tế là 1 câu chuyện hoàn toàn khác, thị trường có thể không lớn như bạn nghĩ đâu. Chưa gì đã mua rất nhiều đồ đạc, thuê nhà cửa thì bạn sẽ có thể lãng phí rất nhiều.
Khởi nghiệp là để xây dựng gia tài, chứ không phải là để chứng tỏ bạn thông minh nhường nào. Lập kế hoạch và luôn tính toán từ trước. Rủi ro là đương nhiên nhưng tính sao cho bạn không quá đau thương khi vấp ngã, vẫn còn chí hướng để làm tiếp. Nhiều người ngã quá đau nên cứ nghĩ lại là thấy sợ.
Nên nhớ rằng ý tưởng rất rẻ, quan trọng là thực thi. Nokia ngày xưa là công ty làm bột gỗ, Deawoo là 1 xưởng dệt may… Ý tưởng gì không quan trọng bằng khả năng thực thi của bạn lớn như nào. Có 1 công ty ở Mỹ trị giá tới 6 tỷ đô chỉ đơn giản là làm gấu bông theo đơn đặt hàng, khách hàng được tự tay khâu gấu.
Theo 1 lời khuyên của 1 lão làng là chỉ nên khởi nghiệp với 1 ý tưởng cũ và mình làm tốt hơn, mình là có thể có lãi, mình đáp ứng 1 loại khách hàng tốt hơn sẽ đảm bảo khả năng thành công cao hơn nhiều. Đừng “quyết chiến” với 1 ý tưởng mà chưa từng tồn tại trên thế giới bao giờ, khả năng thất bại sẽ rất cao.
7. TIỀN
Máu của doanh nghiệp, và thường là doanh nghiệp chết vì hết tiền. Do đó khi bắt đầu bạn phải tìm mọi cách và mọi giá để tiết kiệm tiền đầu tư vào doanh nghiệp. Thường chi phí sẽ bị đội lên gấp 3-4 lần so với cái bản nháp 1 trang “kế hoạch kinh doanh” của bạn. Phải chi li và tính sao cho mình đủ tiền 1 năm, đừng trông chờ là làm 3-4 tháng có doanh thu sẽ bù để làm tiếp. Mua sắm đồ cũ, tăng xin, dùng phần mềm nguồn mở, web tự đi nhờ viết, logo search google rồi tùy biến chẳng hạn .
Đồ cũ mình mua mà bán lại thì cũng được gần như giá trị lúc mua về nên bạn sẽ vẫn giữ được rất nhiều tiền còn lại, còn tiền là còn bày keo khác được. Hết tiền là bạn sẽ rất khó xin hoặc vay ai khác nữa lắm. Có 1 điều lầm tưởng là khởi nghiệp cần phải rất nhiều tiền nhưng thực tế là cần khả năng xoay tiền của bạn hơn.
Dù thế nào thì bạn cũng chẳng bao giờ đủ tiền để làm doanh nghiệp đầu tay đâu, càng làm càng thiếu. Và khởi nghiệp nên dùng tiền của chính mình chứ không phải tiền bố mẹ cho để đảm bảo từng quyết định dùng người, từng quyết định mua sắm của mình là chính xác.
8. NGƯỜI
Chỉ nên khởi nghiệp với đội ngũ sáng lập không quá 2 người làm điều hành. Người thứ 3 thể nào làm cho mâu thuẫn. Các bạn thử điểm các công ty lớn mà thành công chúng ta biết đều 2 người hoặc 1 người. Google là Sergey Brin và Larry Page, Apple là 2 bác Steve, Microsoft là Bill Gate và Paul Allen (Steve Balmer là vào để điều hành giúp thôi chứ không phải cùng khởi sự).
Sai sót về tuyển người có thể kết liễu doanh nghiệp của bạn, hãy chọn cho team mình những người nào họ không làm việc vì tiền mà làm vì yêu ý tưởng.
Chọn những người mình yêu quý được và chơi được để khó khăn còn thông cảm được cho nhau. Chỉ chọn những người nào có tiềm năng gắn bó lâu dài với doanh nghiệp của mình. Hãy đối xử với nhân viên thật tốt như anh em, vì họ là những người mình gặp nhiều, quyết định chất lượng cuộc sống của mình mà.
Chỉ có những người như thế mới làm cho lúc khó khăn và nản trở nên dễ dàng hơn. Khởi nghiệp sẽ hứa hẹn rất nhiều sóng gió và khó khăn đấy.
Nuôi doanh nghiệp khởi sự cũng giống như nuôi 1 đứa trẻ sơ sinh, nó chỉ có mục tiêu là sống, có cái ăn và không mắc bệnh tật gì. Đừng cho nó ăn quá nhiều để cố gắng làm nó lớn thật nhanh. Tìm hiểu và áp dụng Lean Startup (khởi nghiệp tinh gọn?).
Tức là khách hàng cũng chính là 1 phần trong chu trình sản xuất và xây dựng sản phẩm. Như google docs là vừa làm vừa sửa liên tục theo yêu cầu khách hàng, còn Microsoft Word là 2 năm mới ra 1 lần thì lỗi phát hiện cũng không kịp sửa.
Nếu bạn đọc được đến tận dòng cuối cùng này mà vẫn thấy hấp dẫn thì có lẽ bạn có thể trở thành doanh nhân khởi nghiệp đấy. Với công sức tôi bỏ ra, tôi muốn giúp được nhiều người nhất có thể. Để công bằng, bạn like thì phải share lại cho càng nhiều người càng tốt nhé, lan tỏa tri thức nào.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Victoria’s Secret vừa công bố hôm 20.5 rằng họ có kế hoạch đóng cửa vĩnh viễn 250 cửa hàng ở Mỹ và Canada vào năm 2020.
Công ty mẹ của Victoria’s Secret đã công bố thông tin này cùng với buổi báo cáo kết quả doanh thu quý đầu tiên sau khi thị trường đóng cửa.
Thương hiệu này hiện có có tổng 849 cửa hàng ở Bắc Mỹ. Phần lớn các địa điểm này vẫn đóng cửa kể từ tháng 3 sau khi đại dịch coronavirus tấn công Mỹ.
Thông tin về việc đóng cửa các cửa hàng này xuất hiện chỉ vài tuần sau khi công ty mẹ của nó, L Brands, xác nhận rằng một thỏa thuận bán phần lớn cổ phần của công ty cho công ty tư nhân Sycamore Partners đã thông qua.
Các nhà phân tích tin tưởng Sycamore sẽ thực hiện một bước ngoặt lớn tại Victoria’s Secret và định vị lại thương hiệu này trong tương lai sau một vài năm bán hàng sa sút.
Nhưng Sycamore Partners cũng đã đệ đơn để rút lại thỏa thuận vào tháng Tư, cho rằng các động thái của Victoria’s Secret trong đại dịch coronavirus khi đóng cửa hàng, cắt giảm hàng tồn kho mới và không trả tiền thuê trong tháng 4 là vi phạm những thỏa thuận mà 2 bên đã thực hiện vào tháng Hai.
Sau khi cho biết họ sẽ “bảo vệ mạnh mẽ” vụ kiện và việc chấm dứt thỏa thuận là “không hợp lệ”, Victoria’s Secret xác nhận rằng giữa họ đã đi đến một “thỏa thuận chung” để “chấm dứt” thỏa thuận.
Sycamore Partners cho biết mục tiêu của mình là loại bỏ các thương hiệu của Victoria’s Secret – bao gồm Victoria’s Secret Lingerie, Victoria’s Secret Beauty, and Pink – để thành lập một công ty độc lập.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Trong bối cảnh nền kinh tế đang đi xuống, việc theo đuổi chiến lược trở thành “lạc đà” có thể giúp startup tạo ra sự khác biệt nếu muốn gây dựng một công ty thành công.
Đại dịch Covid-19 đã biến mảnh đất đầu tư mạo hiểm vốn màu mỡ dần trở nên khô cằn hơn. Một số chuyên gia cho rằng, để vượt qua hành trình dài trên sa mạc đầu tư đang khô cằn này, các startup nên trở thành “lạc đà”, biết dự trữ nguồn nước để có thể sống sót.
Bài viết dưới đây là quan điểm của Matthew Cowan, Đối tác điều hành của Next47 – hãng đầu tư mạo hiểm toàn cầu. Công ty này có trụ sở tại Bắc Kinh, Munich, Palo Alto, Paris, Stockholm và Tel Aviv.
Tình hình bất ổn gây ra bởi dịch bệnh Covid-19 là điều chúng ta chưa từng phải đối mặt trước đây. Mọi thứ đang thay đổi với tốc độ quá nhanh. Nhưng một vài thay đổi trong số đó thậm chí đã nhen nhóm từ trước khi dịch bệnh nổ ra.
Một loạt các thương vụ IPO thất bại khiến cho mọi người dần có cái nhìn khác đi về những startup kỳ lân “hoàn hảo”, rồi sau đó là sự xuất hiện của những nghi ngại về tầm ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19.
Những tín hiệu ban đầu từ những thương vụ IPO thất bại giờ đây đã trở thành hồi chuông báo động cho nhiều công ty khởi nghiệp khiến họ nhận thức được rằng cách tiếp cận thị trường mà nhiều startup kỳ lân đã áp dụng có thể sẽ không thể “bền vững” trong bối cảnh hiện tại.
Khi thuật ngữ “kỳ lân” xuất hiện vào năm 2013, số lượng startup có thể chạm ngưỡng giá trị ít nhất 1 tỷ USD rất ít, khi chỉ có 39 công ty trên toàn cầu làm được điều này. Kể từ đó, số lượng kỳ lân đã không ngừng tăng lên, tính tới thời điểm hiện tại là 460, và thuật ngữ này cũng dần “tiến hóa” sang một hệ tư tưởng mới thiên về sự phát triển của các công ty sau khi đạt được cột mốc giá trị đáng mơ ước.
Trong khi những con số giá trị khổng lồ chỉ có thể đọng lại trên các mặt báo, thì những thử thách mà nền kinh tế công nghệ đang gặp phải đã tạo ra một sự thay đổi lớn trong lối suy nghĩ “tăng trưởng bằng mọi giá” được một khoảng thời gian.
Với sự bất ổn đang ngày một hiện rõ, sự thay đổi này càng trỗi dậy mạnh mẽ hơn, và sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên khi startup quan tâm hơn đến việc bằng cách nào họ có thể tăng khả năng sống sót qua cơn “hạn hán” này.
Sẽ sớm thôi, chúng ta sẽ nhìn thấy sự trỗi dậy của làn sóng các startup “lạc đà”.
Sự trỗi dậy của “lạc đà”
Khi dùng từ “lạc đà” để ám chỉ các công ty khởi nghiệp, có một số điểm cần chú ý:
Sự kiên trì: Họ đang lên kế hoạch chuẩn bị cho tương lai thông qua những chiến lược phát triển cẩn trọng.
Thận trọng: Họ duy trì được nguồn lực để có thể vượt qua được quãng thời gian khó khăn và phát triển trong quãng thời gian thuận lợi. Giá trị của họ nằm ở quan điểm bảo thủ về mặt tài chính, tuyển dụng đúng người và tập trung xây dựng nên các công nghệ giúp cải cách lại ngành công nghiệp.
Sự tận tụy: Họ hết mình với những nền tảng xây dựng doanh nghiệp cơ bản và nhấn mạnh vào hiệu suất tính trên đầu đơn vị (unit economics) từ những ngày đầu, và cả trong những ngày sau đó, nhằm đảm bảo sự thành công của doanh nghiệp trong dài hạn.
Tập trung vào khách hàng: Những sản phẩm họ đưa ra thị trường và những mô hình kinh doanh phải được dựa trên nhu cầu thực tế của khách hàng.
Với việc dịch bệnh Covid-19 đã, đang và sẽ có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới khởi nghiệp, số lượng các thỏa thuận rót vốn đầu tư đang có xu hướng giảm. Các quỹ đầu tư chắc chắn sẽ vẫn tiếp tục quá trình tìm kiếm một thế hệ startup mới, nhưng tình hình sẽ trở nên khó khăn hơn đối các nhà sáng lập để có thể thuyết phục các nhà đầu tư rót tiền vào công ty của mình.
Với những doanh nghiệp chưa thực sự áp dụng hệ tư tưởng “lạc đà”, đây chính là thời điểm không thể tuyệt vời hơn.
Có 3 yếu tố bạn cần tập trung vào nếu như bạn muốn gia tăng sức chịu đựng của doanh nghiệp:
Những kế hoạch phải có tính thích ứng cao
Trong bối cảnh dịch bệnh, các startup cần phải điều chỉnh các kế hoạch để tập trung vào mục tiêu đảm bảo sự ổn định, hy sinh mức tăng trưởng “nóng” để thay vào đó là một mức tăng trưởng đã được tính toán trước, đi cùng với hiệu suất tích cực tính trên đầu đơn vị.
Các lãnh đạo startup cũng cần cởi mở hơn trong việc áp dụng các cách tiếp cận mới và khám phá những mối quan hệ được coi là không thực tế trong thời kỳ trước dịch bệnh. Bối cảnh hiện tại đã khiến cho cục diện cuộc chơi thay đổi và việc áp dụng những cách thức mới để cắt giảm chi phí và gia tăng lợi nhuận có thể sẽ tạo ra những khác biệt rất lớn, cho dù đó là việc chuyển từ kế hoạch xây một nhà máy sang việc chuyển hoạt động sản xuất sang một thị trường tốn ít chi phí hơn, hay phát hiện ra những cơ hội mới.
Điều này có thể giúp bạn xác định được những nhu cầu của khách hàng được hình thành trong dịch bệnh, hay việc chuyển hướng sang các thị trường “khỏe mạnh” hơn. Hãy tìm mọi cách mà công ty của bạn có thể phát triển trong tình cảnh hiện tại.
Ngoài việc tăng cường sự ổn định của doanh nghiệp, những đánh giá trên sẽ giúp số tiền đầu tư của bạn có tác động lâu dài hơn, giúp bạn thu hút thêm các nhà đầu tư, những người có thể hỗ trợ bạn kéo dài đà phát triển này.
Xây dựng và duy trì đội ngũ nhân sự tài năng
Một thống kê gần đây về số lượng nhân viên bị cho thôi việc kể từ khi dịch bệnh Covid-19 bùng nổ cho thấy 36 kỳ lân đã sa thải nhiều nhân viên của mình. Con số nhân viên bị buộc thôi việc tại các công ty này chiếm đến gần một nửa tổng số các nhân viên bị cho thôi việc tại các doanh nghiệp tư nhân nói chung.
Đối với một số startup, việc cho nhân viên nghỉ việc là điều không thể tránh khỏi, nhưng ở thời điểm hiện tại, điều đầu tiên cần phải làm đó là cân nhắc về một giai đoạn “đóng băng tuyển dụng”. Nếu như điều đó là chưa đủ, bạn nên cân nhắc đến sự tồn vong của công ty. Khi bắt buộc phải cắt giảm nhân viên, tránh tạo ra những phản ứng tiêu cực khi cắt giảm một số lượng lớn nhân viên cùng một lúc.
Sau đó, khi bạn bắt đầu đánh giá thời điểm tốt nhất để có thể tuyển dụng thêm những nhân viên mới, hãy làm điều đó một cách có tính toán. Việc nóng vội có thể sẽ kéo bạn quay ngược trở lại với vùng nguy hiểm.
Hãy coi mối quan hệ với nhà đầu tư như cuộc cuộc hôn nhân
Mối quan hệ giữa các startup và các nhà đầu tư có nhiều điểm tương đồng với một cuộc hôn nhân, không có khả năng ly hôn. Giống như một cuộc hôn nhân hạnh phúc, mối quan hệ mà bạn xây dựng với các nhà đầu tư nên là một yếu tố thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn.
Trong quá trình làm việc với các nhà đầu tư, hãy cân nhắc xây dựng những mối quan hệ mới, tập trung vào những cá nhân, tập thể có thể giúp bạn xây dựng một chiến lược phát triển công ty dài hơi, thay vì chỉ nhắm vào yếu tố giá trị.
Các nhà đầu tư cũng không nên chỉ ký séc, đi kèm với đó là rất ít lời khuyên cho những người điều hành doanh nghiệp. Hãy là những người đồng hành, những người không chỉ hiểu về công ty, mà qua đó còn sẵn sàng giúp công ty nắm bắt được những cơ hội kinh doanh mới, duy trì đà phá triển, và tham gia quản lý chi phí.
Mối quan hệ cộng tác này nên tập trung giúp nâng cao sức chịu đựng của doanh nghiệp. Một đối tác có tầm hiểu biết rộng có thể được coi là ốc đảo giữa lòng sa mạc, giúp chúng ta mở ra những cánh cửa mới, vượt qua những chướng ngại vật và giúp chúng ta trau dồi thêm các kiến thức chuyên môn.
Khi mà các công ty khởi nghiệp bắt đầu đánh giá lại cái cách mà họ có thể duy trì và phát triển doanh nghiệp của mình, bước đi quan trọng nhất đó là không đánh mất đi một tầm nhìn trong dài hạn.
Đạt được mốc giá trị ít nhất 1 tỷ USD luôn là ước mơ của các nhà sáng lập, nhưng việc đảm bảo hoạt động hiệu quả, khả năng phục hồi và sự thành công của doanh nghiệp phải là ưu tiên số một. Trong bối cảnh nền kinh tế đang đi xuống, việc theo đuổi hệ tư tưởng “lạc đà” có thể giúp bạn tạo ra sự khác biệt trong quá trình gây dựng nên một công ty trường tồn.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Văn phòng châu Á – Thái Bình Dương ở Singapore của Uber sẽ được chuyển đến một quốc gia khác trong khu vực. Hãng gọi xe công nghệ này cũng sa thải thêm 3.000 nhân sự trên toàn thế giới.
Uber sẽ chuyển trụ sở khu vực châu Á – Thái Bình Dương ra khỏi Singapore trong 12 tháng tới trong bối cảnh đại dịch Covid-19 tiếp tục bùng phát, gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.
Theo thông tin từ Uber, khoảng 120 nhân sự sẽ bị ảnh hưởng bởi đợt sa thải và đóng cửa văn phòng ở Singapore. Công ty đã khai trương văn phòng châu Á – Thái Bình Dương tại tháp Frasers, Singapore vào tháng 4/2019 để hỗ trợ các thị trường đang hoạt động trong khu vực.
Những thị trường này bao gồm Ấn Độ, Bangladesh, Sri Lanka, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hong Kong (Trung Quốc), Australia và New Zealand.
Hãng gọi xe công nghệ này cũng sa thải thêm 3.000 nhân sự trên toàn thế giới và tạm thời dừng một số mảng không liên quan đến hoạt động kinh doanh cốt lõi của công ty.
Trước đó, hôm 6/5, Uber tuyên bố sa thải 3.700 nhân sự bộ phận hỗ trợ khách hàng và tuyển dụng. Động thái này khiến cho hãng bị tổn thất khoảng 20 triệu USD chi phí liên quan đến các chính sách thôi việc và phúc lợi cán bộ nhân viên. Cùng với đợt sa thải gần đây nhất, số lượng nhân viên toàn cầu của hãng bị cắt giảm đã lên đến 1/4 tổng số nhân sự của Uber.
Dara Khosrowshahi, Giám đốc điều hành của Uber, cho biết: “Do tác động mạnh của đại dịch và không thể đoán trước khi nào mọi thứ sẽ phục hồi, chúng tôi đang tập trung nỗ lực vào các nền tảng di động và phân phối chính của mình, đồng thời điều chỉnh quy mô công ty để phù hợp với tình hình kinh doanh …
Như những gì tôi nói với các đồng nghiệp của mình ngày hôm nay, đây là những quyết định khó khăn, tuy nhiên chúng tôi vẫn bắt buộc phải đưa ra để có thể tiến lên phía trước và bắt đầu hồi phục một cách tự tin”.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
CEO Kevin Mayer, người đứng đầu bộ phận streaming của Walt Disney, sẽ rời công ty giải trí này để trở thành CEO TikTok.
ANAHEIM, CALIFORNIA – AUGUST 23: Chairman of Direct-to-Consumer & International division of The Walt Disney Company Kevin Mayer took part today in the Disney+ Showcase at Disney’s D23 EXPO 2019 in Anaheim, Calif. (Photo by Jesse Grant/Getty Images for Disney)
Theo thông báo từ Walt Disney và TikTok, ông Mayer sẽ nghỉ việc tại Disney để về làm CEO TikTok. Ông là người dẫn dắt màn ra mắt thành công của dịch vụ streaming Disney+ tháng 11/2019. Dưới sự lãnh đạo của ông, Disney+ đã mang về hơn 50 triệu thuê bao trong 5 tháng.
Ông Mayer sẽ chính thức trở thành CEO TikTok từ ngày 1/6 và ông cũng sẽ là Giám đốc điều hành (COO) của ByteDance, công ty sở hữu TikTok.
TikTok nổi tiếng với các video hát nhép và video ngắn mang hiệu ứng đặc biệt. Ứng dụng của Trung Quốc ngày càng nổi tiếng với giới trẻ Mỹ nhờ các thử thách có tính lan tỏa. TikTok không che giấu tham vọng xây dựng mảng kinh doanh streaming nhạc khi tuyên bố sẽ hợp tác với công ty bản quyền Merlin của Anh để mở rộng danh mục âm nhạc.
Dù vậy, ByteDance lại khiến Washington lo ngại về cách xử lý dữ liệu cá nhân. Công ty sử dụng thuật toán AI tinh vi để đưa ra các gợi ý video dựa trên hành vi của người dùng trên ứng dụng. Tháng 11/2019, chính phủ Mỹ tiến hành đánh giá an toàn đối với vụ thâu tóm ứng dụng Musical.ly của ByteDance trị giá 1 tỷ USD.
Hai thượng nghị sỹ giới thiệu dự luật cấm một số nhân viên liên bang dùng TikTok trên các thiết bị được nhà nước cấp.
Một trong các thượng nghị sỹ, ông Josh Hawley, cho biết trước đây TikTok nói giám đốc của họ không thể điều trần trước Quốc hội vì họ đặt tại Trung Quốc. Song, do lãnh đạo mới sống tại Mỹ, ông muốn ông này ra điều trần.
Để xóa bỏ các lo ngại, ByteDance đang nỗ lực tách biệt TikTok khỏi việc kinh doanh trong nước và tuyển nhiều giám đốc cấp cao mới trong các tháng qua. Công ty bổ nhiệm cựu Giám đốc tài sản sở hữu trí tuệ Microsoft Erich Andersen làm Luật sư toàn cầu vào tháng 1 sau khi mời Vannesa Pappas, cựu quan chức YouTube, về điều hành hoạt động tại Mỹ năm 2019.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Nếu bạn nghĩ rằng làm kiểm duyệt viên (moderator) cho Facebook là một công việc nhàn hạ, có lẽ bạn đã lầm. Facebook vừa chấp thuận khoản bồi thường trị giá 52 triệu USD cho một nhóm các nhà kiểm duyệt nội dung vì những vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần gây ra bởi công việc “đáng sợ” này.
Nói “đáng sợ” hay “kinh khủng” không hề ngoa bởi những người làm công việc này sẽ phải tiếp xúc với hàng tá nội dung độc hại như khủng bố, mại dâm, phân biệt chủng tộc… lặp đi lặp lại ngày qua ngày, từ đó gây ra những ảnh hưởng vô cùng tiêu cực đến tâm lý cũng như sức khỏe của các kiểm duyệt viên. Thậm chí có không ít trường hợp phải nhập viện để điều trị lâu dài.
Khoản bồi thường khổng lồ này là một phần trong phương án giải quyết sơ bộ đối với vụ kiện tập thể của nhóm các kiểm duyệt viên Facebook trong năm 2018, liên quan đến chứng rối loạn căng thẳng, sang chấn tâm lý (PTSD) do phải xem nội dung độc hại liên tục.
Bạn đến văn phòng vào 9 giờ sáng mỗi ngày, bật máy tính lên và chứng kiến cảnh ai đó bị cứa cổ hoặc xâm hại. Bạn sẽ xem những thứ kinh khủng như vậy mỗi phút, mỗi giờ, từ ngày này qua tháng khác”, một cựu kiểm duyệt viên Facebook cho biết trong cuộc phỏng vấn với tờ The Guardian năm 2017.
Trong một thỏa thuận sơ bộ được đệ trình cuối tuần trước tại Tòa án Tối cao San Mateo California, Facebook sẽ phải bồi thường mỗi người 1.000 USD cho 11.250 người đã và đang làm công việc kiểm duyệt nội dung tại các trụ sở Facebook ở California, Arizona, Texas và Florida, từ năm 2015 đến nay.
Cá biệt có những trường hợp có thể được nhận khoản bồi thường lên tới 50.000 USD tùy theo hoàn cảnh cá nhân, sức khỏe tâm thần và mức độ tác động của công việc đến cuộc sống của họ.
Ngoài ra, Facebook cũng cam kết cung cấp thêm dịch vụ hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho bộ phận kiểm duyệt viên, cung như đưa ra các thay đổi đối với các quy trình kiểm duyệt để giải quyết vấn đề sức khỏe tâm thần của người lao động.
Đây mới chỉ là phương án giải quyết sơ bộ, nó sẽ phải được chấp thuận từ các bên liên quan và đặc biệt là phía tòa án, nhưng có thể coi là một chiến thắng mang tính bước ngoặt, yêu cầu các công ty chủ quản/người sử dụng lao động phải có trách nghiệm lớn hơn trong việc đảm bảo sức khỏe thể chất và tinh thần cho người lao động, đặc biệt là với những công việc nguy hiểm trong lĩnh vực công nghệ.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Một cú hit lớn mới vào ngành thương mại điện tử (e-commerce) của Facebook Shops sẽ mang đến một tab mua sắm trên Instagram, có thể mua sắm trực tiếp từ live streams và nhiều hơn thế nữa.
Facebook đang thực hiện một cú hit lớn mới vào thương mại điện tử. Cụ thể, Facebook vừa công bố ra mắt cửa hàng mua sắm (Shops), một cách để các doanh nghiệp thiết lập “mặt tiền” cửa hàng miễn phí trên Facebook và cả trên Instagram.
Các ‘Cửa hàng’ sẽ được cung cấp bởi các dịch vụ của bên thứ ba, bao gồm Shopify, BigCommerce và Woo, được thiết kế để biến mạng xã hội thành một điểm đến mua sắm hàng đầu.
Trong một buổi phát trực tiếp hôm 19.5 vừa rồi, CEO Facebook, Mark Zuckerberg cho biết thương mại điện tử được mở rộng sẽ rất quan trọng để bắt đầu xây dựng lại nền kinh tế trong khi đại dịch vẫn tiếp diễn.
“Nếu bạn không thể có khả năng để mở cửa hàng hoặc nhà hàng của mình, bạn vẫn có thể nhận đơn đặt hàng trực tuyến và gửi chúng đến khách hàng của mình” CEO Facebook cho biết. Chúng tôi nhận thấy rất nhiều doanh nghiệp nhỏ chưa bao giờ từng kinh doanh trực tuyến, dù chỉ là một lần.
Facebook Shops ra mắt và liên quan đến Covid-19
Sự ra mắt của Facebook Shops hay ‘Cửa hàng’ diễn ra khi các đơn đặt hàng tại nhà liên quan đến đại dịch COVID-19 tăng lên, điều này cũng đã dẫn đến mức doanh số đạt kỷ lục cho các công ty thương mại điện tử.
Trong một cuộc khảo sát do Facebook và the Small Business Roundtable thực hiện, số liệu cho thấy đại dịch cũng đã tàn phá rất lớn đối với các doanh nghiệp nhỏ, với một phần ba trong số họ báo cáo rằng họ đã ngừng hoạt động . Thêm vào đó là 11% doanh nghiệp cho biết họ có thể thất bại trong vòng ba tháng tới nếu tình hình hiện tại vẫn tiếp diễn.
Tuy nhiên, sau tất cả thì bán hàng trực tuyến đã là một điểm sáng cho các doanh nghiệp nhỏ. Tại Etsy, nơi các “doanh nhân solo” đã chăm chỉ đan mặt nạ vải và bánh ngọt để bán, doanh thu đã tăng gấp đôi so với ba năm trước.
Facebook đang đặt cược rằng việc đưa thêm các doanh nghiệp địa phương lên môi trường trực tuyến sẽ giúp chính doanh nghiệp có khả năng tồn tại tốt hơn, đồng thời cũng tạo ra các cơ hội kinh doanh mới lớn hơn cho chính Facebook.
Facebook Shops mang đến cơ hội mới không những cho SMEs mà còn cho chính Facebook
Mặc dù ‘Cửa hàng – Shops’ có thể tạo miễn phí, nhưng chúng có thể tạo cơ hội kinh doanh mới đáng kể cho Facebook trong quảng cáo, thanh toán và các dịch vụ khác. Các doanh nghiệp sẽ có thể mua quảng cáo cho ‘Cửa hàng’ của mình và khi mọi người sử dụng tùy chọn thanh toán trên Facebook, họ sẽ tính phí cho doanh nghiệp đó.
CEO Zuckerberg cho biết ‘Cửa hàng’ sẽ cải thiện trải nghiệm thương mại web tiêu chuẩn bằng cách lưu trữ thông tin xác thực thanh toán của người dùng ở một nơi duy nhất mà sau đó họ có thể sử dụng trên bất kỳ cửa hàng nào trên Facebook hoặc Instagram. Hiện tại có hơn 160 triệu doanh nghiệp nhỏ đang sử dụng các ứng dụng của Facebook.
Các ‘Cửa hàng’ có thể được tìm thấy trên các fanpage thuộc trình quản lý doanh nghiệp của Facebook và trên trang cá nhân của Instagram, chúng cũng có thể xuất hiện trong các thẻ “Stories” hoặc trên các nội dung được quảng cáo.
Các mặt hàng mà doanh nghiệp đã có sẵn để bán sẽ xuất hiện trong ‘Cửa hàng’ và người dùng có thể lưu các mặt hàng đó hoặc đặt hàng. (Một số doanh nghiệp cho phép người dùng thực hiện mua hàng trực tiếp trên Facebook, trong khi những doanh nghiệp khác sẽ đưa bạn đến trang web của doanh nghiệp để hoàn tất giao dịch.)
Các doanh nghiệp có thể xử lý các vấn đề hỗ trợ khách hàng thông qua Messenger, Instagram và WhatsApp. Cuối cùng, Facebook cũng đã có kế hoạch cho phép bạn duyệt các danh mục cửa hàng và mua hàng trực tiếp từ cửa sổ trò chuyện (Chat Window).
Đồng thời, Facebook cũng có kế hoạch cho phép mua sắm từ các luồng phát trực tiếp (live streams), cho phép các thương hiệu và người tạo live streams gắn thẻ các mục từ danh mục của Facebook của họ để chúng xuất hiện ở dưới cùng của video trực tiếp.
Facebook cũng đang nỗ lực để tích hợp các chương trình khách hàng thân thiết với các cửa hàng. Bạn có thể dễ dàng nhìn thấy và theo dõi các điểm và phần thưởng của mình. “Chúng tôi đang khám phá những cách để giúp các doanh nghiệp nhỏ tạo, quản lý và hiển thị chương trình khách hàng thân thiết trên Cửa hàng Facebook”. CEO Facebook cho biết.
Thực tế, Facebook đã tham gia cuộc chơi thương mại trong nhiều năm trước. Vào năm 2016, Facebook đã giới thiệu Marketplace, một điểm đến trong ứng dụng để mua và bán hàng. Hai năm sau đó, Instagram bắt đầu xây dựng một ứng dụng mua sắm độc lập, mặc dù sau đó cũng “bỏ cuộc chơi”. Thay vào đó, vào 2019, Instagram đã thêm tính năng thanh toán trong ứng dụng của mình.
Các ‘Cửa hàng’ sẽ bắt đầu tung ra trên Facebook từ 19.5.2020 tại Mỹ và sẽ đến Instagram trong vòng vài tháng tới. Instagram sẽ giới thiệu các thương hiệu trên tài khoản cửa hàng hiện tại của mình. Cuối năm nay, Instagram có kế hoạch thêm một tab mua sắm chuyên dụng vào thanh điều hướng của mình.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Dịch vụ “tiền di động” (Mobile Money) được kỳ vọng thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt, nhưng cũng có không ít ý kiến lo ngại rủi ro từ loại hình này.
Nhà mạng sẽ trở thành ngân hàng ?
Theo thống kê, hiện nay hơn 50% dân số VN chưa có tài khoản thanh toán tại ngân hàng, trong khi mật độ thuê bao di động đạt trên 100%. Dịch vụ này sẽ chỉ được cấp phép cho các nhà mạng. Không chỉ các thuê bao di động smartphone 3G/4G, ngay cả các điện thoại “cục gạch” sử dụng sóng 2G cũng có thể sử dụng.
Vì thế, Mobile Money hướng tới giao dịch giá trị nhỏ sẽ là giải pháp mạnh mẽ để thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt. Theo đề án, hạn mức thanh toán được đưa ra cho một tài khoản Mobile Money là 10 triệu đồng/tháng và sau khi triển khai chính thức sẽ xem xét để nâng dần lên…
Theo báo cáo mới đây về Mobile Money của Viện Nghiên cứu và Đào tạo BIDV, về bản chất, dịch vụ này tương tự như Ví điện tử (cũng là một dạng tiền điện tử e-money), nhưng khác so với ví điện tử hay Mobile Banking (dịch vụ ngân hàng qua di động) là các tài khoản đều phải kết nối với tài khoản ngân hàng để thực hiện các giao dịch.
Trong khi đó, Mobile Money có thể không kết nối với tài khoản ngân hàng. Vì vậy, báo cáo này cho rằng bên cạnh những ưu điểm của dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt như sự thuận tiện; giảm thiểu chi phí giao dịch, chi phí quản lý và rủi ro dùng tiền mặt; thúc đẩy kinh tế số…, thì Mobile Money cũng tiềm ẩn rủi ro.
Đó là dữ liệu của khách hàng có thể bị xâm phạm, dùng cho mục đích riêng hoặc gian lận; đại lý cung cấp dịch vụ có thể thu phí bất hợp pháp từ các giao dịch gửi, rút tiền của khách hàng; thậm chí mạo danh nhà cung cấp để lừa gạt người gửi tiền; giao dịch có thể không thực hiện được khi sự cố xảy ra trong chuỗi giao dịch của hệ thống thanh toán.
Khách hàng có thể chia nhỏ giá trị để lách quy định, tiến hành rửa tiền, đánh bạc hoặc tiền của khách hàng có thể bị mất nếu thiếu phương án quản lý phù hợp.
Từ bài học thẻ cào…
Một trong những nghi ngại lớn nhất dành cho dịch vụ này là nhiều đối tượng có thể lợi dụng để rửa tiền, đánh bạc qua mạng hay thực hiện các hành vi bất hợp pháp khác. Đầu tháng 5, Cục Cảnh sát hình sự (Bộ Công an) đã triệt phá thành công đường dây đánh bạc trên mạng.
Để tham gia cá cược, người chơi phải đăng ký lập tài khoản thành viên trên game và nạp tiền trực tiếp bằng cách chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng do các đại lý cung cấp hoặc nạp thẻ điện thoại… Cục Cảnh sát hình sự xác định tổng số tiền giao dịch qua tài khoản ngân hàng giữa các con bạc với game từ tháng 1.2019 đến nay là trên 20.000 tỉ đồng.
Hay trước đó, vụ phá đường dây đánh bạc qua mạng Rikvip vào cuối năm 2017, cơ quan chức năng xác định trong gần 10.000 tỉ đồng nạp tiền chơi bạc vào sòng bài trực tuyến này có đến 97% nạp từ thẻ cào do các nhà mạng phát hành. Vì vậy, nhiều chuyên gia kinh tế đều cho rằng khi cho phép nhà mạng triển khai Mobile Money, cần có quy định chặt chẽ.
Theo TS Cấn Văn Lực: Để giảm thiểu giao dịch rửa tiền, đánh bạc, tài trợ khủng bố phải có quy định về giới hạn số tài khoản khách hàng có thể nắm giữ, số dư tối đa trên tài khoản; có hệ thống giám sát các luồng giao dịch, có khả năng cảnh báo cho nhà cung cấp dịch vụ các giao dịch đáng ngờ…
Ngoài ra, làm rõ quy trình phối hợp, trách nhiệm của các bên liên quan trong việc quản lý, giám sát và vận hành dịch vụ Mobile Money từ Ngân hàng Nhà nước với các bộ, ngành liên quan như Bộ Thông tin – Truyền thông, Bộ Công an, Bộ Tài chính…
TS Trần Hùng Sơn, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển công nghệ ngân hàng – ĐH Quốc gia TP.HCM, phân tích ngoài việc đưa ra hạn mức sử dụng cho mỗi tài khoản Mobile Money, cơ quan quản lý nhà nước cần có quy định chặt chẽ về điều kiện cho phép đại lý của các nhà mạng được phép nộp và rút tiền từ tài khoản viễn thông.
Chẳng hạn tại một số nước châu Phi, các đại lý viễn thông chỉ được thực hiện dịch vụ này sau khi đã tham gia các khóa huấn luyện về phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố hay liên quan đến tội phạm… Đồng thời, các nhà mạng phải tăng cường đầu tư và đạt các chứng chỉ về bảo mật thanh toán chuẩn quốc tế như các ngân hàng.
“Việc định danh các chủ thuê bao điện thoại sử dụng Mobile Money khá quan trọng, để nhà mạng cùng Ngân hàng Nhà nước theo dõi các giao dịch bất thường. Hơn nữa, Ngân hàng Nhà nước phải có những tuyên bố rõ ràng về quyền lợi và nghĩa vụ của người dùng tài khoản Mobile Money như khi khách hàng đăng ký tài khoản ngân hàng để tránh các rủi ro phát sinh”, TS Trần Hùng Sơn chia sẻ thêm.
TS Cấn Văn Lực, chuyên gia tài chính, cũng nhận định để giảm thiểu những rủi ro trong việc triển khai tiền di động, cần có quy định về chia sẻ thông tin – dữ liệu giữa các cơ quan quản lý với nhà mạng.
Hay cơ quan quản lý cần ban hành các khung tiêu chuẩn hệ thống đại lý (về đối tượng, trình độ, năng lực, vốn tối thiểu…) để định hướng các nhà mạng có thể thiết lập các tiêu chí trong lựa chọn đại lý. Đồng thời, phải quy định luôn có mã xác thực, mã pin hoặc mật khẩu khi thực hiện giao dịch trên điện thoại nhằm xác minh danh tính người dùng; cho phép mọi giao dịch được giám sát, có thể định vị thuê bao di động thực hiện giao dịch.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Trong một buổi phỏng vấn gần đây nhất, CEO Microsoft, Ông Satya Nadella cho biết: “Làm việc tại nhà lâu ngày có thể làm tổn hại lớn đến sức khoẻ tinh thần của người nhân viên.
Coronavirus khiến hầu hết nhân viên trên toàn thế giới làm việc tại nhà trong quý đầu tiên. Khi lệnh đóng cửa trên khắp thế giới đang dần được nới lỏng, các nhân viên sẽ được yêu cầu tiếp tục đến văn phòng của họ để làm việc.
Giám đốc điều hành của Microsoft, Ông Satya Nadella nói rằng làm việc vĩnh viễn tại nhà có thể gây tổn hại cho sự tương tác xã hội và sức khỏe tinh thần cho người lao động.
Ông Satya Nadella nhấn mạnh rằng các cuộc gọi video ảo không thể thay thế các cuộc gặp trực tiếp. Điều tôi nhớ là khi bạn bước vào một cuộc họp trực tiếp, bạn nói chuyện với người bên cạnh bạn, bạn cũng có thể kết nối với họ trong hai phút trước và sau đó. Những điều như thế này không thể có ở các cuộc gọi ảo hay “Work From Home’.
“Sự kiệt sức trông như thế nào? Sức khỏe tinh thần sẽ ra sao? Sự kết nối và xây dựng cộng đồng đó trông như thế nào? Một trong những điều tôi cảm thấy là, có lẽ chúng ta đang phá huỷ những “vốn xã hội’ mà chúng ta đã xây dựng trong giai đoạn này nơi mà tất cả chúng ta đang làm việc từ xa. Biện pháp cho điều đó là gì? “.
Microsoft đã gia hạn chính sách làm việc tại nhà cho đến ít nhất là tháng 10.
“Chúng tôi sẽ mạnh dạn phân bổ và mua lại, xây dựng, đổi mới, kết hợp hoặc bất cứ điều gì mà chúng tôi có thể. Chúng tôi cũng sẽ đảm bảo rằng chúng tôi có đủ khả năng để hỗ trợ về tiền cho các doanh nghiệp nhỏ và các tổ chức khác cần sự giúp đỡ đó”, Nadella nói.
Ngay cả với bối cảnh coronavirus, Microsoft vẫn chưa cảm thấy bất cứ ảnh hưởng lớn nào theo báo cáo tài chính mới nhất của mình. Giá cổ phiếu của “gã khổng lồ công nghệ” này vẫn tăng 14% trong năm nay. Theo New York Times.
Nhận xét của Nadella chỉ vài ngày sau khi CEO của Twitter, Jack Dorsey cho phép nhân viên của Twitter làm việc tại nhà.
Twitter cho biết: “Vài tháng qua đã chứng minh rằng Work From Home vẫn tỏ ra hiệu quả. Vì vậy, nếu nhân viên của chúng tôi mong muốn được tiếp tục như thế, tức vẫn làm việc tại nhà sau dịch, chúng tôi sẽ biến điều đó trở thành hiện thực”.
Apple và Google cũng đã nói rằng họ có thể cho phép nhân viên của họ làm việc tại nhà cho đến cuối năm 2020.
Giám đốc điều hành của Apple, Tim Cook trong một cuộc họp cũng cho biết, chúng tôi không thể hình dung được, ít nhất là cho đến hôm nay, mọi người sẽ quay lại văn phòng làm việc cùng một lúc. Có thể các đội nhóm khác nhau sẽ quay lại vào một thời gian khác nhau, đó có thể là những người trong cùng một đội nhóm sẽ cùng quay trở lại và tất nhiên là sẽ vào những thời điểm khác nhau với các đội nhóm khác.
Facebook cũng đã nói rằng nhân viên của họ sẽ tiếp tục quay lại văn phòng làm việc theo hình thức sole, tức sẽ không phải tất cả nhân viên cùng quay lại văn phòng trong cùng một thời điểm.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Khoảng 55% dân số Việt Nam sẽ mua sắm trực tuyến với giá trị mua hàng trung bình 600 USD một người mỗi năm, theo mục tiêu của Chính phủ.
Ngày 18/5, Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng ký kế hoạch phát triển thương mại điện tử đến năm 2025. Theo đó, 5 năm tới sẽ có khoảng 55% người Việt mua sắm qua kênh online, với giá trị mua hàng bình quân 600 USD một người một năm.
Doanh số thương mại điện tử của mô hình thương mại điện tử doanh nghiệp – người tiêu dùng (B2C) tăng 25% mỗi năm, doanh thu khoảng 35 tỷ USD và chiếm 10% tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng cả nước.
Còn các dịch vụ phụ trợ, thanh toán không dùng tiền mặt mục tiêu đạt 50%, trong đó qua các tổ chức trung gian thanh toán chiếm 80%. Ngoài ra, Chính phủ cũng đặt mục tiêu chi phí trung bình cho chuyển phát và hoàn tất đơn hàng chặng cuối chiếm 10% giá thành sản phẩm trong thương mại điện tử.
80% website thương mại điện tử tích hợp đặt hàng trực tuyến và khoảng 70% giao dịch mua bán trên các trang này có hoá đơn điện tử.
Hà Nội, TP HCM là hai thành phố chiếm một nửa giá trị giao dịch thương mại điện tử trong xu hướng phát triển mua sắm trực tuyến 5 năm tới.
Chính phủ cũng đặt kế hoạch một nửa doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển kênh bán hàng online (gồm cả mạng xã hội), 40% có các ứng dụng di động, 70% các đơn vị cung cấp dịch vụ điện, nước, viễn thông và truyền thông triển khai hợp đồng điện tử với người tiêu dùng.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Cho dù mục tiêu hay con đường nghề nghiệp của mình trong tương lai là gì đi chăng nữa thì đây vẫn nên là môn học mà các bạn trẻ nên học. Vị CEO của Uber Dara Khosrowshahi chia sẻ.
Giám đốc điều hành của Uber, Dara Khosrowshahi đưa ra một lời khuyên với các học sinh trung học phổ thông hoặc sinh viên về những gì cần học ở trường đại học.
Cụ thể, vị CEO này khuyên các bạn trẻ nên học CIS (Computer Information Systems – Hệ thống thông tin máy tính) và ngành kỹ thuật (Engineering). Ông chia sẻ điều này tại Câu lạc bộ kinh tế ở thành phố New York, Mỹ.
Bản thân Khosrowshahi cũng đã học ngành kỹ thuật tại Đại học Brown, và ông giới thiệu nó cho tất cả sinh viên bất kể họ có kế hoạch theo đuổi ngành kỹ thuật như một nghề nghiệp hay không. Sở dĩ có điều đó bởi vì nó có thể dạy bạn cách giải quyết vấn đề.
“Mặc dù tôi đã đi từ kỹ thuật sang tài chính, tuy nhiên kỹ thuật đã dạy tôi cách phá vỡ các vấn đề và làm thế nào để xây dựng chúng trở lại một lần nữa, ông nói. Tôi nghĩ rằng nó có thể giúp ích, không chỉ là chuyên môn của bạn, mà còn với bất cứ điều gì bạn làm trong cuộc sống này”.
Những tư duy này đã giúp Ông rất nhiều tại Uber và các công ty khác, bao gồm cả Expedia, nơi Ông từng là CEO, Ông nói.
“Đối với tôi, để giải quyết những vấn đề trong thế giới kinh doanh đầy phức tạp, những vấn đề xã hội, lấy sự phức tạp chia chúng thành các bộ phận cấu thành của chúng và sau đó xây dựng lại chúng, đó là một phần của tư duy kỹ thuật (Engineering Mindset). Nó là một phần của tư duy khoa học máy tính (Computer Science Mindset)”, Ông nói.
Kỹ thuật và khoa học máy tính được xếp hạng là chuyên ngành đại học có thu nhập cao nhất năm 2019, theo báo cáo lương của đại học PayScale. Và một số tỷ phú thành công nhất thế giới, khởi nghiệp là kỹ sư phần mềm như Jack Dorsey, Mark Zuckerberg hay cả Elon Musk (CEO của Tesla).
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Nghiên cứu của Tập đoàn RBNC cách đây 3 năm cho biết, đến năm 2020, sẽ có khoảng 15% dân số Việt Nam sẽ nằm trong nhóm những người thu nhập cao nhưng chưa giàu (HIGH EARNERS NOT RICH YET – HENRYS). “Chúng tôi ko gọi họ là trung lưu mà gọi là cận giàu, với mức thu nhập khoảng 75.000 – 250.000 USD/năm”, ông Robert nói.
Họ chưa được định nghĩa là những người giàu vì còn tồn tại đặc tính “ráo mồ hôi là hết tiền” dù có thu nhập tương đối cao. Nhưng với khả năng tài chính hiện có, họ muốn và có thể có được trải nghiệm của những người giàu.
Dưới đây là những đặc điểm của phân khúc HENRYs được ông Robert Tran đưa ra:
1.Tài chính
Tiết kiệm để mua nhà, mua xe, mua bảo hiểm, gửi ngân hàng… là thói quen sử dụng tài chính thường thấy ở nhóm HENRYs. Họ lo lắng cho tương lai của mình và chuẩn bị những khoản “phòng thân” nhằm đảm bảo sức khỏe và chất lượng cuộc sống. HENRYs có tối thiểu 75.000 USD (khoảng 1,7 tỷ VND) trong tài khoản.
2. Phong thái
“Giàu chưa chắc đã sang”. Có nhiều người lầm tưởng thu nhập cao đồng nghĩa là họ đã có cuộc sống cao cấp. Đẳng cấp thật sự của một HENRY được khẳng định từ chính suy nghĩ của họ: “Tôi độc lập, tôi mạnh mẽ và tôi có giá trị của mình”. Chúng ta có thể không xuất thân giàu sang nhưng vẫn có thể học được phong cách của HENRY nhờ “behave – believe – belong” (biểu hiện – tin tưởng – trở thành).
Mỗi người có thể luyện tập “bắt chước” biểu hiện của H.E.N.R.Y, từ đó tạo ra niềm tin và suy nghĩ tương tự, phong thái sẽ tự nhiên “cùng tần suất” với H.E.N.R.Y và thứ tự này có thể đảo thành “believe – behave – belong”.
3.Tinh thần
Họ thích dùng “hàng hiệu giá phải chăng”. Mặc dù, thu nhập của họ tốt nhưng họ sẽ không chi quá nhiều tiền chỉ vì thương hiệu nổi tiếng. Điều họ quan tâm nhất vẫn là giá trị thực của sản phẩm hay dịch vụ nào đó. Để đáp ứng xu hướng đó, hàng loạt nhãn hiệu thời trang đình đám khéo léo đưa vào những câu chuyện nhân văn để nói về sản phẩm hay dịch vụ của họ.
4.Thể chất
Họ dành nhiều thời gian cũng như tiền bạc để đầu tư vào sức khỏe. Họ nhận thức rõ và xem trọng các hoạt động tăng cường thể chất và giữ vóc dáng như tập thể dục, tập gym hay yoga và sử dụng các thực phẩm sạch… Điều này còn làm hình thành nên mối bận tâm khi nhóm người này khi quyết định làm việc tại các công ty với câu hỏi “Liệu công ty này có tạo điều kiện để nhân viên có thời gian tập thể thao hay chính sách chăm sóc sức khỏe nhân viên không?”
5. Tri thức
Suy nghĩ mới mẻ, luôn khát khao học hỏi và trải nghiệm để thu nạp thêm nhiều kiến thức. Đó là những suy nghĩ vô cùng tích cực của nhóm người này. Họ luôn mong muốn được học nhiều hơn nữa, từ đó hình thành những sở thích như tham gia các khóa học ngắn hạn, các buổi hội thảo, tọa đàm, đi du lịch để khám phá, trải nghiệm…
6. Xã hội ở Việt Nam mối quan hệ xã hội đang bị hiểu sai
Người ta nghĩ có connect (kết nối) với những người giàu, người nổi tiếng, chuyên gia… trên mạng xã hội thì đã được xem là “có đẳng cấp”. Tuy nhiên, HENRYs hiểu rất rõ network (mối liên hệ) thực sự sẽ được thể hiện ở chỗ bạn biết họ, họ biết bạn và cả hai sẽ sẵn sàng gặp gỡ bên ngoài và hỗ trợ lẫn nhau.
7. Môi trường
Trân trọng thiên nhiên. Họ thích tham gia và ủng hộ các sản phẩm, dịch vụ có góp phần vào bảo vệ môi trường sống và tránh tuyệt đối các thực phẩm từ động vật “có thể bị tuyệt chủng”.
Có thể thấy, việc thuyết phục các HENRYs mở hầu bao là không đơn giản, đặc biệt là với những khách hàng trẻ. Họ sành công nghệ, ưa thích mua sắm trực tuyến và dễ nảy sinh thiện cảm với những thương hiệu mang tính bền vững và tạo được tác động xã hội (social impact).
Rất khác với các thế hệ đi trước: hầu như đề cao tính sở hữu; quan trọng hình ảnh, hình thức; ít quan tâm đến câu chuyện phía sau nhãn hàng.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Thời khắc khó khăn chính là lúc mà bản lĩnh của của một người lãnh đạo thực thụ được bộc lộ rõ nét nhất.
Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế thế giới, khiến nhiều lãnh đạo doanh nghiệp phải toát mồ hôi để tìm cách giải quyết. CEO của Airbnb Brian Chesky cũng không phải ngoại lệ: anh buộc phải cắt giảm 1.900 người trên tổng số 7.500 nhân viên của mình.
Đây không phải là một quyết định dễ dàng với bất kỳ CEO nào. Trước Brian, đã có rất nhiều người phải thực hiện điều này, với một thái độ vô tâm cùng lời xin lỗi hời hợt.
Thế nhưng, Brian đã đem đến hy vọng thông qua bức thư của mình.
Anh dạy cho chúng ta bài học quý giá về cách làm kinh doanh giữa người với người trong giai đoạn cực kỳ khó khăn này.
Đảm bảo không ai tự trách chính mình
Những quyết định này không phản ánh chất lượng làm việc của mọi người, cũng không có nghĩa là tất cả mọi người đều phải rời đi. […] Hãy nhớ rằng đây không phải lỗi của bạn.
Khi bị sa thải, phản ứng đầu tiên của bạn sẽ là tự trách chính mình. Bởi vì không được báo trước, không có một lý do rõ ràng, bạn chỉ có thể tự trách bản thân mình.
Brian đã ngăn chặn điều này bằng cách chỉ ra cho họ thấy việc cắt giảm này không phải là lỗi của họ, không phải do họ làm việc chưa tốt hay kỹ năng yếu kém. Hành động này tuy nhỏ, nhưng chỉ vài năm sau đấy, nhân viên Airbnb sẽ nhận ra họ đã được trao một món quà quý giá đến mức nào từ Brian.
Tiết lộ quá trình đưa ra quyết định
Thông thường, các CEO chỉ thông báo cắt giảm mà không giải thích nhiều về quá trình đưa ra quyết định. Điều này khiến những người ra đi lẫn những người ở lại hoang mang tột độ. Đó cũng chính là lúc mà các tin đồn và giả thuyết bắt đầu xuất hiện, rồi dần biết thành nét văn hóa “độc hại” có thể hủy hoại những gì công ty gây dựng được.
Brian tiết lộ quá trình đưa ra quyết định vì anh hiểu rằng sự minh bạch sẽ thúc đẩy sự tự tin và lòng trung thành của nhân viên trong thời điểm bối rối này. Hai yếu tố này cũng sẽ là nền tảng để vực dậy doanh nghiệp sau khủng hoảng.
“Các công ty khác sẽ may mắn khi có được họ”
Chỉ bằng một câu này, Brian đã chứng minh được tài năng của những người bị cắt giảm, đồng thời hy vọng các công ty khác (kể cả đối thủ của mình) sẽ thuê họ.
Brian không sợ những người này sẽ chống lại mình một ngày nào đó. CEO Airbnb hoàn toàn khuyến khích các đối thủ cạnh tranh tuyển dụng nhân tài mà mình buộc phải nói lời tạm biệt. Anh hy vọng họ sẽ được hưởng lợi từ mất mát của công ty mình. Hành động cao thượng này thực sự đã nằm ngoài khuôn khổ kinh doanh.
Giúp các nhà tuyển dụng tiềm năng thấy được năng lực tuyệt vời của nhân viên
Đây là một món quà khác lạ mà Brian đã dành tặng cho những người phải ra đi.
Chúng tôi sẽ mở một trang web giúp những người bị cắt giảm tìm công việc mới. Họ được phép đăng tải hồ sơ, CV và thành quả công việc lên đó để các nhà tuyển dụng tiềm năng có thể tiếp cận được.
Bằng cách cho phép các nhà tuyển dụng tương lai tiếp cận một phần thông tin của công ty, Brian đã giúp các nhân viên cũ có thêm lợi thế khi phỏng vấn tìm việc. Tạo điều kiện cho nhân viên cũ tìm việc là một hành động đúng đắn mà doanh nghiệp nào cũng nên làm.
Dùng tài nguyên của công ty vì mục đích cao cả
Dường như chưa có một CEO nào lại đưa ra quyết định độc đáo như Brian.
Từ giờ đến hết năm 2020, một phần của Bộ phận tuyển dụng Airbnb sẽ trở thành Nhóm hỗ trợ nhân viên cũ. Các nhà tuyển dụng tại Airbnb sẽ cố gắng hỗ trợ những người bị cắt giảm tìm một công việc mới.
Hành động tuyệt vời này sẽ biến Airbnb trở thành sự lựa chọn hàng đầu của người lao động về lâu dài. Những công ty thực sự quan tâm đến nhân viên và thể hiện điều đó bằng hành động sẽ sở hữu nhiều lợi thế vô hình lớn trên thị trường.
Cung cấp laptop công ty cho nhân viên
CEO Airbnb thậm chí còn tận tâm đến mức lo cả chuyện nhân viên cũ sẽ dùng máy tính nào để tìm việc.
Anh biết rằng việc mua máy tính mới sẽ khiến cho những người vừa mới thất nghiệp này phải tốn thêm một khoản tiền không đáng có. Do vậy, anh quyết định cho họ giữ lại laptop với sticker của Airbnb – như một lời nhắc nhở về hành động vị tha của Brian trong hoàn cảnh khó khăn.
“Tôi muốn cho tất cả mọi người vài ngày để suy nghĩ”
Cắt giảm nhân sự chẳng khác nào một buổi hành quyết công khai. Chiếc rìu sẽ chém xuống nhanh và gọn; sau đó tất cả mọi người lại quay trở về với cuộc sống thường ngày.
Tuy nhiên, Brian nhận ra rằng chia tay đồng nghiệp cũng giống như chứng kiến người thân ra đi. Vì thế, anh đã có một quyết định rất dũng cảm: cho mọi người thời gian để suy nghĩ và tìm cách giúp đỡ những người không may bị cắt giảm.
Nhờ vậy, mọi người cũng có thêm thời gian để trò chuyện và nói lời chia tay một cách tử tế. Đây là một hành động tuyệt vời trong thời điểm bất an như hiện tại.
Tri ân những người rời đi
Một trong những cách quan trọng nhất mà chúng ta có thể tri ân những người sắp ra đi là cho họ biết những đóng góp của họ đã được công nhận và họ sẽ mãi luôn là một phần của Airbnb.
Tôi tự tin rằng thành tựu của họ sẽ còn mãi, giống như sứ mệnh của Airbnb vậy.
Brian coi những người phải ra đi như anh hùng và tri ân họ trong suốt lá thư của mình.
Anh đã rất khôn ngoan khi nhắn nhủ những người ở lại phải biết ơn di sản của mà những ra đi để lại. Những người ở lại cần tiếp quản công việc đang dang dở và khiến những người ra đi cảm thấy tự hào.
Những nhân viên bị cắt giảm không phải là kẻ thất bại; họ là những người lính đã hy sinh trong cuộc chiến tài chính mà con virus vô hình kia là kẻ cầm đầu. Họ đáng nhận được sự tôn trọng từ tất cả mọi người.
Nhìn lại quá khứ để dìu dắt tương lai
Brian đã có một sự lựa chọn thú vị khi quay trở lại những ngày tháng Airbnb mới thành lập.
Tôi dành tình yêu sâu sắc cho tất cả các bạn. Sứ mệnh của chúng ta không chỉ là du lịch. Khi chúng ta bắt đầu Airbnb, khẩu hiệu đầu tiên của chúng ta là: “Du lịch như một con người”.
Phần người luôn luôn quan trọng hơn phần du lịch. Giá trị cốt lõi của chúng ta là cảm giác thoải mái, thân thuộc và trung tâm của nó chính là tình yêu.
Brian hiểu rằng để Airbnb có thể tiến xa hơn trong tương lai, anh cần phải quay trở về với giá trị cốt lõi ban đầu. Vị CEO này đã chia sẻ một suy nghĩ hết sức bất ngờ, khi ví von sứ mệnh “thoải mái ở khắp mọi nơi” của doanh nghiệp này với tình yêu, giống như tỷ phú Elon Musk từng nói “tình yêu chính là câu trả lời”.
Mọi người thường nghĩ rằng những thiên tài công nghệ như Elon và Brian quá thông minh và khôn ngoan, đến mức cứng nhắc và vô tình như robot. Họ quên mất rằng cả hai cũng chỉ là con người, cũng có trái tim và thấu hiểu được bản chất của tình người.
Điều đáng ngưỡng mộ là trong giờ phút khó khăn này, Brian vẫn nhận ra được rằng: “Sự thoải mái, thân thuộc chính là tình yêu, vì tình yêu chính là câu trả lời cho tất cả”.
Lá thư mà Brian Chesky gửi tới nhân viên của mình trong khủng hoảng đáng để chúng ta học hỏi nhiều điều. Những lời khuyên tốt nhất về sự nghiệp bao giờ cũng xuất phát từ trong chính hoàn cảnh thực tiễn.
CEO Airbnb đã cho chúng ta thấy cách hành xử đầy tình người trong kinh doanh vào thời điểm khó khăn là như thế nào, bằng cách sử dụng khôn ngoan lòng trắc ẩn, vị tha, tình người, ý thức về mục tiêu, sự minh bạch, sự khiêm nhường, tư duy dư thừa, sự bất toàn và sự thấu hiểu về sức mạnh của tình yêu trong kinh doanh và cuộc sống.
Mỗi phẩm chất này đều là những công cụ làm ăn hữu ích giúp chúng ta vượt qua thời khắc khó khăn này. Lá thư gửi nhân viên của Brian Chesky chính là đỉnh cao của nghệ thuật lãnh đạo mà chúng ta có thể học hỏi.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Với hơn 1,6 tỷ người dùng đang hoạt động, WhatsApp hiện là một trong những nền tảng nhắn tin tức thì (instant messaging platform) được sử dụng nhiều nhất trên toàn thế giới. Một loạt các tính năng và dễ sử dụng làm cho WhatsApp trở thành một lựa chọn khôn ngoan cho những người dùng điện thoại thông minh.
Trong khi hầu hết mọi người sử dụng dịch vụ để liên lạc cá nhân, WhatsApp cũng cung cấp phiên bản kinh doanh của dịch vụ. Nó có thể được sử dụng để tạo ra một danh mục để giới thiệu sản phẩm và dịch vụ. Không chỉ vậy, WhatsApp gần đây đã thêm một tính năng có thể được sử dụng để lên lịch tin nhắn.
Tin nhắn theo lịch trình còn được gọi là tin nhắn đặt đi. Để lên lịch tin nhắn, hãy đi tới cài đặt ứng dụng> Cài đặt doanh nghiệp> Tin nhắn đi. Bây giờ, bật “Tin nhắn Gửi đi” và nhập tin nhắn mà bạn muốn gửi.
Chọn “Lịch tùy chỉnh” và nhấp vào “Người nhận”. Tại đây, chọn người nhận mà bạn muốn gửi tin nhắn và nhấn Lưu.
Hãy nhớ rằng, các tin nhắn chỉ được gửi nếu điện thoại của bạn có kết nối Internet đang hoạt động. Đây là một tính năng được đánh giá cao mà hầu hết người dùng WhatsApp muốn tận hưởng trên nền tảng chính.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Bắt đầu từ ngày thứ 6 tuần trước, giao diện mới của Facebook trên trình duyệt web bắt đầu được cập nhật cho tất cả người dùng trên toàn thế giới.
Giao diện mới của Facebook trên trình duyệt web bắt đầu được cập nhật trên toàn cầu, đại diện công ty cho biết vào thứ 6 tuần trước. Trước đó, chỉ có một số lượng người dùng hạn chế được phép thử nghiệm trước giao diện mới này.
Trong một bài đăng trên blog, Facebook cho biết giao diện mới sẽ “trở thành một trải nghiệm web mới cho Facebook trên toàn cầu”. Nói thêm rằng “nó sẽ nhanh hơn, dễ sử dụng hơn và cho phép mắt của bạn thoải mái hơn với chế độ Dark Mode”.
Giao diện mới của Facebook trên trình duyệt web cũng có thay đổi lớn về bố cục, đặc biệt là New Feed. Có thể thấy giao diện chính của New Feed trở nên hẹp hơn, tạo ra khoảng không gian lớn hơn cho các cột bên trái và bên phải.
Các biểu tượng cũng lớn hơn, thanh menu cũng lớn hơn, giúp người dùng dễ dàng truy cập vào những thành phần khác của mạng xã hội Facebook, thay vì chỉ tập trung vào phần New Feed chính.
Người dùng hiện tại có thể kích hoạt giao diện mới của Facebook trên trình duyệt và cả chế độ Dark Mode, bằng cách sau:
Bấm vào biểu tượng mũi tên chỉ xuống ở cuối thanh menu.
Bấm vào “Switch to new Facebook” hoặc “Chuyển sang giao diện Facebook mới”.
Bấm vào biểu tượng mũi tên và kích hoạt chế độ Dark Mode.
Mục đích khi Facebook ra mắt giao diện mới lần đầu tiên tại Hội nghị F8 năm 2019, đó chính là tập trung trải nghiệm người dùng vào những giá trị cốt lõi khác của mạng xã hội này, ví dụ như Group, Event hay Messenger.
Kỷ nguyên của New Feed vẫn chưa kết thúc, tuy nhiên giao diện chính này lại đang chứa quá nhiều thông tin rác và các bài đăng mà người dùng không thực sự quan tâm. Người dùng ngày càng có xu hướng hoạt động trong các Group riêng về những chủ đề mà họ quan tâm, hoặc chia sẻ thông tin với nhau bằng tin nhắn.
Giao diện mới của Facebook có thể khiến nhiều người dùng cảm thấy không quen thuộc, đặc biệt là phần tin nhắn. Tuy nhiên nó lại dễ sử dụng hơn khi bạn thường xuyên truy cập vào các Event, Group hay xem Video.
Bắt đầu từ ngày thứ 6 tuần trước, giao diện mới của Facebook trên trình duyệt web bắt đầu được cập nhật cho tất cả người dùng trên toàn thế giới. Tuy nhiên do lịch trình cập nhật không phải cùng một lúc, nên một số người dùng có thể vẫn chưa nhận được giao diện mới và sẽ phải chờ thêm một vài ngày nữa.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Với thỏa thuận trị giá 400 triệu USD, Facebook được cho là sẽ sẽ tích hợp nền tảng ảnh động Giphy vào ứng dụng Instagram của mình.
Facebook vừa thực hiện thành công một thương vụ thâu tóm mới trong chiến dịch chinh phục toàn bộ internet của hãng. Vào hôm thứ Sáu, CEO Facebook Mark Zuckerberg đã tuyên bố rằng công ty đang mua lại nền tảng chia sẻ ảnh GIF nổi tiếng – Giphy.
Theo Gizchina, thỏa thuận mua bán này đã tiêu tốn của Facebook hơn 400 triệu USD. Kế hoạch của mạng truyền thông xã hội là tích hợp thư viện ảnh Giphy vào Instagram và các dịch vụ khác của hãng bao gồm ứng dụng WhatsApp và Messenger.
Sự tích hợp của Facebook với Giphy thực tế đã có từ lâu. Facebook vẫn cho phép người dùng chia sẻ, tạo và chỉnh sửa ảnh GIF. Cả Facebook, Messenger, WhatsApp và Instagram đều hoạt động với thư viện ảnh Giphy. Facebook tuyên bố rằng khoảng 50% lưu lượng truy cập Giphy đến từ các dịch vụ của công ty.
Nếu bạn là người dùng Giphy, đừng vội lo lắng. Ít nhất là trong tương lai gần, Facebook cho biết hãng chưa có ý định thực hiện bất kỳ thay đổi lớn nào trên Giphy.
Hiện tại, nền tảng ảnh động này sẽ trở thành một phần của Instagram, cho phép người dùng chia sẻ ảnh GIF trong các cuộc trò chuyện và tin nhắn riêng tư. Trong tương lai, hãng có thể sẽ mở rộng sự hiện diện của Giphy trong các dịch vụ khác.
Việc mua đã được Facebook và Giphy khởi động trước đại dịch Covid-19 và những cuộc đàm phán này đã nảy sinh trong thương vụ mua lại.
Facebook từng nói về Giphy như sau: “Chúng tôi đã sử dụng Giphy của đối tác API trong nhiều năm, không chỉ trong Instagram, mà trong ứng dụng Facebook, Messenger và WhatsApp”.
Chiến lược thâu tóm đã được mạng xã hội Facebook thực hiện từ khá lâu. Có thể bạn chưa biết, cả Instagram và WhatsApp ban đầu không phải thuộc sở hữu của tập đoàn truyền thông xã hội này. Instagram được mua lại với giá khoảng 1 tỷ USD, trong khi WhatsApp có giá 16 tỷ USD.
Thương vụ thâu tóm Giphy của Facebook diễn ra vào thời điểm hãng đang chịu sự giám sát chặt chẽ từ phía các cơ quan quản lý và nhà chức trách.
Một số nhà lập pháp Hoa Kỳ, bao gồm Thượng nghị sĩ Elizabeth Warren, D-Mass trước đó đã kêu gọi “Lệnh cấm sáp nhập lớn”, đặc biệt trong giai đoạn suy thoái kinh tế do đại dịch Covid-19 gây ra. Hiện, Ủy ban Thương mại Hoa Kỳ (FTC) vẫn từ chối bình luận về việc mua lại Giphy của Facebook.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Các nhà làm Digital Marketing hay tiếp thị kỹ thuật số chịu trách nhiệm thúc đẩy nhận thức về thương hiệu (brand awareness) và tạo ra khách hàng tiềm năng (lead generation) thông qua tất cả các kênh Digital hay kỹ thuật số – cả miễn phí (free traffic) và trả phí (paid traffic).
Các kênh này bao gồm: social media, website, application, SEO, SEM, email, display advertising hoặc các blog của công ty.
Người làm Digital Marketing thường tập trung vào các chỉ số hiệu suất chính (KPIs) khác nhau cho mỗi kênh để họ có thể đo lường chính xác hiệu suất qua từng kênh. Ví dụ, một digital marketer chịu trách nhiệm về SEO, họ sẽ tập trung đo lường “lưu lượng truy cập không trả phí” của website của họ – dựa trên tổng số traffic hiện có của website.
Digital Marketing ngày nay đóng khá nhiều vai trò trong doanh nghiệp, thậm chí là vai trò chiến lược chính yếu của doanh nghiệp. Trong các công ty nhỏ, một digital marketer sẽ có thể là chuyên gia ‘đa chức năng’, khi họ cần phải có thể cần phải vận dụng nhiều chiến thuật khác nhau trong quá trình làm việc
Trong các công ty lớn hơn, khi cơ cấu nhân sự trở nên “thoải mái” hơn thì sự phân chia theo chuyên môn sẽ trở nên rõ ràng hơn, mỗi chuyên gia chỉ tập trung vào một hoặc hai kênh digital của thương hiệu thay vì “ôm show” như ở các công ty nhỏ khác.
Sau đây là một vài ví dụ về các vị trí chuyên môn phổ biến về Digital trong doanh nghiệp hiện nay:
SEO Executive/Specialist/Manager: KPIs chính là Organic Traffic (lưu lượng truy cập tự nhiên).
Nói đơn giản, các nhà quản lý SEO có vai trò giúp doanh nghiệp xếp hạng tốt hơn trên các công cụ tìm kiếm như Google. Sử dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau để tối ưu hóa công cụ tìm kiếm, người làm SEO có thể làm việc trực tiếp với người tạo nội dung (content marketer) để đảm bảo nội dung họ tạo ra hoạt động tốt trên Google – ngay cả khi công ty cũng đăng các nội dung này lên phương tiện truyền thông xã hội (social media).
Digital Content Marketing Executive/Specialist/Manager: KPIs chính thường là time on page, tổng traffic, views, lượng người subscriber …
Những bạn làm tiếp thị nội dung hay content marketing là những người sáng tạo nội dung trên nền tảng digital. Họ thường xuyên theo dõi lịch viết blog hay website của công ty và đưa ra chiến lược nội dung bao gồm cả video. Những bạn này thường làm việc với những người trong các bộ phận khác thuộc Marketing như PR, SEO, SEM, Social Media…để đảm bảo các sản phẩm và chiến dịch được hỗ trợ với nội dung kịp thời.
Social Media Executive/Specialist/Manager: KPIs chính thường là follows, impressions, shares, comment, like, click, reach…
Vai trò của người làm Marketing trên các phương tiện truyền thông mạng xã hội rất dễ suy ra từ tiêu đề, nhưng mạng xã hội nào họ quản lý và sử dụng cũng còn phụ thuộc vào ngành kinh doanh của doanh nghiệp. Trên hết, những người làm truyền thông xã hội thiết lập lịch đăng bài cho nội dung bằng văn bản và hình ảnh của công ty. Những bạn này cũng thường xuyên làm viêc với các bạn content để sản xuất nội dung phù hợp cho các kênh.
Google Ads Executive/Specialist/Manager: KPIs chính là CPC (cost per click), CTR (click through rate), CPL (cost per lead), tổng paid traffic…
Nếu các bạn làm SEO chủ yếu mang về traffic tự nhiên không phải trả tiền (organic traffic) thì các bạn làm Google Ads – là một kênh paid media, tức có trả phí. Cả 2 kênh này đều có điểm chung là cùng thuộc SEM – Search Engine Marketing, tức là tối ưu công cụ tìm kiếm (chủ yếu là Google hoặc ở Việt Nam thì có thêm Cốc Cốc).
Tuỳ vào chiến lược và mục tiêu của doanh nghiệp mà doanh nghiệp sử dụng hoặc SEO hoặc Google Ads hoặc sử dụng đồng thời cả hai.
Facebook Ads Executive/Specialist/Manager: KPIs chính thường là CPC, CPL, CTR, lượng comment, conversion, gửi tin nhắn…
Cũng là một kênh thuộc Social Network tương tự như Twitter, Instagram…tuy nhiên tại Việt Nam vì sự phổ biến mà riêng kênh Facebook có rất nhiều doanh nghiệp tuyển dụng và sử dụng riêng vị trí Facebook Ads, đặc biệt với các doanh nghiệp lớn hoặc các doanh nghiệp sử dụng ngân sách lớn cho Facebook.
Performance Based Ads Executive/Specialist/Manager: KPIs chính thường là các chỉ số tập trung vào chuyển đổi như: cost per lead, cost per conversion, cost per booking, cost per sign up…
Những năm trở lại đây, rất nhiều doanh nghiệp tuyển dụng và “đãi ngộ cao” với các bạn làm Performance, bởi tính chất của Performance là tập trung vào các hiệu suất thực hay nói cách khác là chuyển đổi hoặc cận chuyển đổi nên thường doanh nghiệp sẽ nhìn thấy chi phí đầu tư cho Performance là xác thực và “có giá trị”. Tuy nhiên nếu nhìn nhận ở bức tranh lớn hơn hoặc liên quan đến “scale up” thì chỉ dựa vào Performance có vẻ vẫn chưa thuyết phục cho lắm.
Thường vị trí này sẽ sử dụng kênh Paid Media để đạt được các mục tiêu hiệu suất được để ra bởi bộ phận Marketing. Tuỳ vào ngành hàng (B2B, B2C, D2C…), sản phẩm, thị trường…mà doanh nghiệp có thể tuỳ chọn các kênh digital để làm Performance.
Marketing Automation Coordinator: KPIs chính thường là Email open rate, campaign click-through rate, lead-generation (conversion) rate…tỉ lệ Lead, Click qua Chatbot…
Tự động hoá các hoạt động Marketing giúp chọn và quản lý phần mềm cho phép toàn bộ nhóm Marketing hiểu hành vi của khách hàng và đo lường sự phát triển của doanh nghiệp. Bởi vì nhiều hoạt động Marketing được mô tả ở trên có thể được thực hiện tách biệt với nhau, điều quan trọng là phải có ai đó có thể nhóm các hoạt động digital này thành các chiến dịch riêng lẻ và theo dõi hiệu suất của từng chiến dịch.
Digital Marketing Executive/Specialist/Manager: KPIs chính thường là tổng KPIs của các kênh Digital cộng lại và liên quan mật thiết với mục tiêu của Business.
Bên cạnh nhiều doanh nghiệp vẫn tách rõ các vị trí làm Digital theo từng kênh thì vẫn có nhiều doanh nghiệp sử dụng vị trí này như là vị trí tổng hợp tức làm đa kênh. Đối với các doanh nghiệp nhỏ, khi lượng ngân sách Marketing và công việc còn ít thì đây sẽ là vị trí thường được chọn. Đối với các doanh nghiệp có lượng ngân sách lớn hơn họ cũng có thể sẽ sử dụng vị trí này tuy nhiên ở level Manager trở lên để quản lý các vị trí chuyên môn cụ thể theo các kênh Digital nói trên.
Khi doanh nghiệp sử dụng vị trí Digital thường sẽ được hiểu là bạn này sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ các hoạt động digital của doanh nghiệp gồm paid media, own media, earned media, cả organic lẫn paid, quản lý toàn bộ các hoạt động Digital Ads, các digital platform (web, app, tools, CRM…).
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Theo thông tin vừa được công bố vào ngày 15/5, Bộ Tư pháp và một nhóm các bang của Mỹ dự kiến sẽ “đánh” Google bằng một vụ kiện chống độc quyền vào mùa hè này, nhắm vào công ty công nghệ trong ngành quảng cáo.
Vụ kiện có thể là kết quả của một cuộc điều tra bắt đầu vào tháng 9/2019, khi tất cả 50 tiểu bang của Mỹ tuyên bố tiến hành điều tra chống độc quyền tại công ty, tập trung vào các hoạt động quảng cáo và kiểm soát tìm kiếm trên Internet.
Ngày 15/5, Tạp chí Phố Wall đã thông cáo rằng, Bộ Tư pháp có kế hoạch biến công nghệ quảng cáo của gã khổng lồ công nghệ thành điểm nhấn chính trong cuộc điều tra và xem xét thêm việc Google sử dụng sự thống trị web của mình để triệt hạ bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào khác.
Tổng chưởng lý Ken Paxton của bang Texas, người đứng đầu cuộc điều tra ban đầu cho biết, Google đã bị trát hầu tòa và vụ kiện có thể tiến hành trong năm nay. Tuy nhiên, thông tin vẫn đang được thu thập dù dịch bệnh hoành hành. Trong khi đó, Tổng chưởng lý William Barr kỳ vọng không có sự chậm trễ và vụ kiện sẽ đến vào đầu mùa hè này.
Trong một tuyên bố với Tạp chí Phố Wall, một phát ngôn viên của Google cho hay, công ty sẽ tiếp tục tuân thủ cuộc điều tra của Bộ Tư pháp và từ chối đưa ra bất kỳ cập nhật hoặc nhận xét nào về vụ việc.
“Mục tiêu của chúng tôi tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ giúp người tiêu dùng, hỗ trợ hàng ngàn doanh nghiệp và cho phép tăng sự lựa chọn và cạnh tranh”, phía Google cho biết thêm.
Thời báo New York đã xác nhận báo cáo của Tạp chí phố Wall và cho rằng, các nhà quản lý tập trung vào điều tra sự thống trị của Google trong ngành quảng cáo trực tuyến và liên quan đến cáo buộc công ty lạm dụng vị trí thống trị của mình trong tìm kiếm trực tuyến để gây hại cho đối thủ cạnh tranh.
Mùa hè năm ngoái, Bộ Tư pháp tuyên bố sẽ mở một cuộc điều tra chống độc quyền rộng rãi đối với các công ty công nghệ lớn nhất quốc gia bao gồm Google, Facebook, Amazon và Apple.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Có lẽ không thể bắt bẻ được 1 chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực AI, Musk chỉ biết dỗi và đành quay ra chê Facebook mà thôi.
Mặc dù có thể coi là “một con nghiện mạng xã hội”, nhưng Elon Musk chưa bao giờ tỏ ra hứng thú với Facebook. Trước đây, vị tỉ phú lắm tài nhiều tật này thậm chí còn tuyên bố thẳng thừng Facebook là 1 trò nhảm nhí, vô vị và kêu gọi mọi người nên ngừng sử dụng ứng dụng này. 2 công ty lớn mà ông sở hữu, SpaceX và Tesla, cũng không hề lập fanpage chính thức trên Facebook.
Tiếp đến, vào hôm thứ 6 vừa qua (15/5), Musk tiếp tục đăng đàn trên Twitter vỗ thẳng mặt sản phẩm để đời của Mark Zuckerberg với dòng trạng thái ngắn gọn: “Facebook dở ẹc”.
Không phải ngẫu nhiên mà Elon Musk lại nổi hứng công khai “cà khịa” Facebook như vậy. Số là mới đây, giám đốc mảng AI của mạng xã hội này, Jerome Pesenti đã chỉ trích Elon Musk không hiểu gì về trí tuệ nhân tạo cả nhưng lại rất thích ba hoa về công nghệ này.
Trong đó, quan điểm “AI sẽ trở nên thông minh hơn rất nhiều so với con người, đẩy nhân loại vào tình cảnh éo le, cùng cực” của Musk bị Jerome phản đối kịch liệt hơn cả. Điều đó có lẽ đã đẩy ác cảm của Musk với Facebook lên đến cao trào, và chúng ta đều biết rằng CEO của Tesla chẳng ngán bất cứ ai trên Twitter cả.
Khi bị giám đốc AI của Facebook chỉ trích, Elon Musk đã đáp trả ngắn gọn: “Facebook dở ẹc”.
Vào tháng 8/2019, tại Hội nghị AI quốc tế diễn ra ở Thượng Hải, Trung Quốc, Elon Musk đã có cơ hội trao đổi về công nghệ này với tỉ phú Jack Ma. Ông cho biết: “Tôi cho rằng đa số chúng ta đang đánh giá quá thấp khả năng của AI. Họ chỉ nghĩ đơn giản nó là 1 sản phẩm thông minh tương tự như con người. Nhưng không, tiềm năng của nó còn lớn hơn vậy nữa. Theo tôi thấy, AI sẽ sớm sở hữu trí tuệ vượt qua cả những người thông minh nhất thế giới”.
Trước đó vào năm 2017, Musk cũng từng nhiều lần nhấn mạnh vào những nguy cơ mà AI có thể gây ra cho nhân loại trong tương lai gần. CEO của Tesla nhận định: “AI là hiểm họa đối với sự tồn vong của loài người. Tôi đã có cơ hội được tiếp xúc với mô hình AI tân tiến nhất hiện nay, và tin tôi đi, chúng ta có lý do để sợ hãi đấy”.
Quan điểm của Elon Musk về việc AI sẽ sớm trở nên thông minh hơn con người và đe dọa đến nhân loại đã vấp phải rất nhiều chỉ trích từ các chuyên gia công nghệ trên toàn thế giới.
Quan điểm của Elon Musk có thể chính xác, cũng có thể không. Nhưng rõ ràng là ông không chỉ phát biểu cho vui mồm vui miệng. Vào tháng 7/2016, ông đã thành lập công ty Neuralink với mục đích hoàn thiện những lỗ hổng kiến thức và thu hẹp khoảng cách giữa con người với những công nghệ AI tân tiến, để nó không bao giờ có thể vượt qua nhân loại được. Ngoài ra, Musk cũng rất tích cực đầu tư vào các start-up AI tiềm năng trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, quan điểm của Musk về trí thông minh nhân tạo đã vấp phải sự phản đối của rất nhiều nhân vật có tiếng tăm trong làng công nghệ. Tỉ phú Bill Gates đã nhận định rằng sự phát triển của AI sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho con người, và không cần phải quá lo lắng về viễn cảnh robot trở nên thông minh hơn chúng ta.
Hay chính CEO Mark Zuckerberg của Facebook cũng từng chỉ trích suy nghĩ của Musk về AI là quá vô căn cứ và nhảm nhí, thiếu trách nhiệm.
Elon Musk cũng từng bày tỏ sự lo ngại đặc biệt đối với AGI – 1 dạng AI trên lý thuyết với khả năng học hỏi và thích nghi giống như con người. Tuy nhiên, Jerome Pesenti đã nhanh chóng phủ nhận điều này: “Chẳng có cái công nghệ nào gọi là AGI cả. Phải còn rất lâu nữa, trí thông minh nhân tạo mới có thể tiệm cận được đẳng cấp của con người“.
Và có lẽ không thể bắt bẻ được 1 trong những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực AI, Musk chỉ biết dỗi và quay sang chê Facebook mà thôi.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Quả thực, phòng phỏng vấn xin việc lúc nào cũng là một nơi áp lực nhất nhì trong cuộc đời mỗi người. Tại đó, người giỏi chưa chắc đã chiến thắng hơn kẻ khôn. Ấy là khi chúng ta được hỏi những câu hóc búa, thì thay vì trả lời chứng tỏ mình giỏi, hãy trả lời để đối phương biết mình thực sự tinh tế.
Và “Điểm yếu lớn nhất của bạn là gì?” là một trong những câu nghe có vẻ đơn giản nhưng ẩn chứa nhiều “bẫy” đằng sau.
Trang Daily Mail trích dẫn ý kiến từ chuyên gia tuyển dụng, họ cho rằng mục đích của câu hỏi này là để biết ứng viên có thực sự tự nhận thức về bản thân hay không, từ điểm mạnh cho đến điểm yếu. Giám đốc Jane McNeil từ công ty tuyển dụng nhân sự toàn cầu Hays cho biết “Không có một đáp án nào chính xác hoàn toàn, câu trả lời hay phụ thuộc vào cách bạn lý giải.”
McNeil còn nhấn mạnh, nếu muốn lấy lòng nhà tuyển dụng, hãy lựa chọn điểm yếu là những điều ngoài công việc chính mà bạn đang cố gắng từng ngày thay đổi để trở nên tốt hơn, chứ không phải những nhiệm vụ căn bản.
Ví dụ như bạn đang ứng tuyển vào vị trí biên tập nội dung cho một tòa soạn, đừng nói điểm yếu của bạn là viết dở, ít đọc hay kém nhanh nhạy thông tin. Nếu nói như thế bạn sẽ mất điểm vô cùng trong mắt nhà tuyển dụng. Thay vào đó, hãy kể ra điểm yếu của mình ví dụ như thuyết trình trước đám đông, yếu về sắp xếp thời gian hợp lý, tự phê bình bản thân…
Dù vậy, hãy cứ đọc kỹ mô tả công việc và tránh các yếu tố trong đó ra khi kể về điểm yếu. Một số chuyên gia khác còn chỉ ra một lỗi sai mà các ứng viên hay vấp phải. Ví dụ bạn ăn mặc chỉnh tề, lịch sự và khá hợp chuẩn nhưng lại nói điểm yếu của mình nằm ở vấn đề thời trang.
Đôi khi ứng viên trả lời như vậy vì bị bế tắc, nhưng cũng có người vì muốn nhà tuyển dụng khen ngược lại. Mặc dù vậy, điều này nghe rất giả tạo và lố bịch. Do đó, chị em cũng nên hiểu chính bản thân để không trả lời theo một cách vô trách nhiệm, trớt quớt như vậy.
Hay như một ứng viên khá hoạt ngôn, đối đáp trôi chảy nhưng lại nói điểm yếu là về ăn nói. Lúc ấy, trong đầu nhà tuyển dụng thường nảy ra câu hỏi “Tại sao bạn này lại phủ nhận khả năng bản thân? Phải chăng bạn ấy không hiểu chính mình?”. Những nghi vấn này sẽ làm bạn mất điểm nhiều đó nha!
Cuối cùng, tờ Daily Mail còn chỉ ra 3 câu nói cấm kỵ khi trả lời câu hỏi về điểm yếu lớn nhất. Thứ nhất là “Tôi là một người quá hoàn hảo, nên đó là điểm yếu”, câu thứ 2 là kiểu “Điểm yếu của tôi là quá nghiện việc”, câu thứ 3 là “Tôi không có bất cứ điểm yếu nào”. Kiểu trả lời như vậy chỉ cho thấy bạn đang không tập trung vào cuộc phỏng vấn cũng như không tôn trọng nhà tuyển dụng.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Hàng tỷ đô-la phí phạm vào các chương trình Marketing mà không thành công, đó không phải là vấn đề của sự khôn ngoan, sáng suốt hay các ngân khoản vĩ đại. Quy luật dẫn đầu trong Marketing: Sáng tạo một chủng loại mà bạn là người đi đầu tiên
Quy luật dẫn đầu trong Marketing
Nhiều nhà quản lý cho rằng một chiến lược Marketing được xây dựng tốt, triển khai tốt, đầu tư tốt sẽ thành công. Tuy nhiên, sự thật là không nhất thiết là phải như vậy.
Và các bạn không phải tìm kiếm các ví dụ đâu xa xôi, mà chính là các công ty như IBM, General Motors, và Sears Roebuck.
Các nhà quản trị điều hành chương trình của hãng GM phải là những người giỏi nhất và sáng giá nhất. Đương nhiên là những người giỏi nhất và sáng giá nhất đã hấp dẫn các công ty lớn và tốt nhất như GM và IBM.
Nhưng các chương trình này tự nó đã dựa trên những giả thuyết thiếu cơ sở.
Khi được hỏi ông tin tưởng gì vào cảm nghĩ của nước Mỹ đối với các công ty lớn, John Keneth Galbraith đã nói rằng chúng ta sợ quyền lực của các công ty. Ngày nay, phải nói chúng ta sợ sự bất lực của các công ty.
Tất cả các công ty đều gặp rắc rối, đặc biệt là các công ty lớn. General Motors chính là một ví dụ điển hình. Thập kỷ vừa qua, công ty đã trả một cái giá khủng khiếp cho sự hủy hoại nhãn hiệu của họ (nó làm công ty tốn kém hệt như đã từng tốn kém khi tạo ra nhãn hiệu). Cổ phần đã mất đi 10 điểm tức là mất đi 10 tỉ đô-la doanh số một năm.
Vấn đề của công ty GM không phải là vấn đề của sự cạnh tranh, dù rằng mức độ cạnh tranh có gia tăng. Đó cũng chẳng phải là vấn đề phẩm chất, dù cho GM không đưa ra được phẩm chất ngoại hạng. Điều chắc chắn đó là vấn đề Marketing.
Ngày nay, khi một công ty phạm một lỗi lầm, dấu ấn lỗi lầm hiện ra ngay sau lưng họ, đó là sự cạnh tranh với công việc kinh doanh của họ. Để lấy lại phong độ kinh doanh, công ty đó phải đợi các công ty khác phạm sai lầm và tìm cách khai thác tình huống đó.
Như vậy, làm thế nào để tránh nhầm lẫn ngay từ đầu? Câu trả lời là chương trình Marketing của bạn phải phù hợp với các điều luật Marketing hay tiếp thị.
Quy luật dẫn đầu trong marketing là gì?
Nhưng ai là người nói lên điều này? Làm thế nào mà hai gã từ bang Connecticut đã khám phá ra trong khi những người khác lại bỏ qua? Sau cùng, có rất nhiều nhà marketer và học giả thông thái. Tại sao họ lại bỏ qua những điều mà chúng ta nghĩ là thật hiển nhiên?
Câu trả lời thật đơn giản. Chúng ta có thể nói, nhưng hầu hết không ai sẵn sàng xác nhận là có những điều luật về Marketing, chỉ có một điều có thể chắc chắn là những điều luật này không thể thay thế được.
Có luật tự nhiên, thế tại sao không thể có luật Marketing? Bạn có thể làm được một chiếc máy bay hoàn hảo, sẽ đẹp mắt lắm, nhưng nó sẽ không cất cánh được cho đến khi nó tuân theo các định luật về vật lý, đặc biệt là luật về trọng lực.
Bạn có thể xây một kiệt tác kiến trúc trên đồi cát, nhưng cơn bão đầu tiên sẽ xóa bỏ sáng tạo của bạn sau một đêm.
Như vậy, bạn có thể hoạch định một chương trình Marketing xuất sắc nhưng chỉ một trong các điều luật Marketing có thể hại nó nếu bạn không biết các diều luật này là gì.
Có lẽ bản chất của con người là không thừa nhận có những điều mà mình không làm được. Chắc chắn hầu hết các nhà Marketer tin tưởng có thể đạt được bất cứ đíều gì nếu bạn có đủ năng lực, sáng tạo hay quyết tâm. Đặc biệt là nếu bạn chịu chi đủ tiền.
Một khi bạn thừa nhận có những luật về Marketing thì rất dễ dàng nhận ra đó là điều gì. Nó thật hiển nhiên.
Vị trí dẫn đầu hay hơn là vị trí tốt hơn?
Rất nhiều người tin tưởng rằng vấn đề căn bản trong Marketing là làm sao thuyết phục các khách hàng tiềm năng rằng mình có sản phẩm hay dịch vụ tốt hơn.
Điều này không đúng. Nếu bạn chia sẻ một phân khúc thị trường nhỏ và bạn phải cạnh tranh với các đối thủ lớn hơn, được đầu tư tốt hơn thì chiến lược Marketing của bạn có thể bị thất bại ngay từ đầu. Bạn đã vi phạm luật Marketing đầu tiên.
Vấn đề căn bản trong Marketing là sáng tạo được một chủng loại mà mình là người đầu tiên trong lĩnh vực này. Đó chính là “luật dẫn đầu”.
Vị trí dẫn đầu vẫn hơn là vị trí tốt hơn. Đi vào trí nhớ trước tiên dễ dàng hơn là thuyết phục mình có sản phẩm tốt hơn sản phẩm của ai đó đã được giới thiệu trước. Bạn có thể trình bày Luật dẫn đầu bằng cách tự đặt hai câu hỏi:
1. Ai là người đầu tiên bay một mình qua Đại Tây Dương? Chales Lindbergh, đúng không?
2. Ai là người thứ hai bay một mình qua Đại Tây Dương? Thật không dễ trả lời. Người thứ hai bay một mình qua Đại Tây Dương là Bert Hinkler.
Bert là phi công giỏi hơn Charlie: ông ta bay nhanh hơn. dùng ít nhiên liệu hơn. Tuy vậy, ai đã từng nghe nói về Bert Hinkler (Bert đã bỏ nhà đi và bà Hinkler chẳng có tin tức gì về ông ta kể từ khi ấy).
Mặc dù Lindbergh là người đi tiên phong, nhưng hầu hết các công ty lại đi theo con đường của Bert Hinkler. Họ chờ đợi cho đến khi thị trường được khai phá. Rồi nhảy vào với một sản phẩm tốt hơn, thường là kèm theo tên công của mình.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày nay một sản phẩm tương tự với một tên mới có rất ít hy vọng trở thành một nhãn hiệu lớn và có lãi.
Nhãn hiệu dẫn đầu trong bất kỳ chủng loại sản phẩm nào luôn luôn là nhãn hiệu đầu tiên trong trí nhớ của khách hàng tương lai. Hertz trong lĩnh vực cho thuê xe ôtô, IBM trong điện toán, Coca-cola trong lĩnh vực nước giải khát…
Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Heineken là loại bia nhập khẩu đầu tiên tạo nên tên tuổi ở Mỹ. Bốn thập nên sau, bia nhập khẩu hạng nhất là bia gì? Có phải là loại bia có vị ngon nhất không hay là bia Heineken.
Có cả thảy 425 nhãn hiệu bia nhập khẩu và bán ở Mỹ. Chắc chắn là một trong các nhãn hiệu này phải ngon hơn Heineken.
Nhưng đó có thật sự là vấn đề không? Ngày nay, Heineken vẫn còn là bia nhập khẩu đứng hạng nhất, với 30% của thị trường.
Loại bia nhẹ nội địa đầu tiên là Miller Lite. Vậy thì ngày nay loại bia nhẹ nào bán nhiều nhất tại Mỹ.
Đó là bia có vị ngon nhất hay là loại bia đã đi vào trí nhớ của người tiêu thụ trước tiên.
Tuy thiên không phải tất cả những gì đi đầu tiên đều trở nên thành công. Vị thế đầu tiên của bạn có thể đã quá trễ.
Ví dụ báo “USA Today” là tờ báo toàn quốc đầu tiên, nhưng nó hình như không thành công. Tờ báo đã lỗ cả thảy 800 triệu đô-la và chưa năm nào có lời. Trong kỷ nguyên của truyền hình, có thể là đã quá trễ cho một tờ báo toàn quốc.
Nhiều cái đầu tiên lại quá tệ nên đã chẳng đi tới đâu. Frosty Paws là loại kem đầu tiên dành cho… chó, đã không thành công.
Các chú chó thích loại kem này, nhưng chủ của chúng lại là người bỏ tiền ra mua, và tất nhiên, các vị này nghĩ rằng các chú chó không cần một loại kem dành cho riêng cho chúng. Chúng vẫn sung sướng dù chỉ Liếm các dĩa kem.
Luật dẫn đầu áp dụng cho bất cứ sản phẩm, nhãn hiệu, chủng loại và lĩnh vực nào. Chẳng hạn bạn không biết tên của trường đại học đầu tiên thành lập tại Mỹ. Bạn luôn luôn có thể đoán đúng bằng cách thay thế từ dẫn đầu bằng từ đầu tiên.
Vậy thì tên của trường đại học dẫn đầu nước Mỹ là gì? Hầu hết mọi người có thể nói là Harvard, đồng thời cũng chính là tên của trường đại học đầu tiên thành lập tại Mỹ. (Tên của trường đại học thứ hai thành lập tại Mỹ là gì?
Trường đại học William & Mary. Nhiều người không biết vì nó chỉ nổi tiếng hơn Bert Hinkler một chút thôi).
Không có hai sản phẩm nào mà lại giống nhau hơn là hai người sinh đôi. Vậy mà các cặp song sinh thường phàn nàn là người ta vẫn luôn luôn thích người mà họ gặp đầu tiên, dù rằng người ta cũng biết cả người kia nữa.
Người ta thường gắn bó với những gì mà họ đă có. Nếu bạn gặp ai đó hơn vợ hay chồng của bạn, điều đó thật sự sai lầm. Nếu bạn thay đổi, hãy nghĩ tới tiền thù lao phải trả cho luật sư, chia con cái và phân chia tài sản.
Luật dẫn đầu cũng áp dụng cho cả tạp chí. Đó là lý do tại sao tạp chí “Time” đư¬ợc xếp trên tạp chí “newsweek”; “People” trên “Us” và “Playboy” trư¬ớc “Penhouse”.
Lấy ví dụ tạp chí “TV Guide” (Hướng dẫn truyền hình). Vào đầu những năm 50. Công ty Xuất bản Curtis đã cố gắng đưa “Television Listings Magazine” (Tạp chí mục lục truyền hình) cạnh tranh với tạp chí còn non nớt “TV Guide”.
Mặc dù “TV Guide” chỉ mới khởi đầu còn yếu ớt, và Curtis có sức mạnh đáng nể nhưng nhà xuất bản Curtis chưa bao giờ thật sự cất đầu lên được vì thị trường của “TV Guide” đã được hình thành trước đó.
Quy luật dẫn đầu áp dụng bình đẳng cho cả các sản phẩm kể từ thể rắn như xe tô và máy vi tính đến thể mềm như các trường đại học và rượu bia.
“Jeep” là loại xe hai cầu đầu tiên; “Acura” là loại xe sang trọng đầu tiên của Nhật; “IBM” là công ty đầu tiên chế tạo loại máy vi tính lớn có công suất cao; “Sun
Microsystems” là công ty đầu tiên sản xuất loại máy vi tính văn phòng. “Jeep”, “Acura”, “IBM” và “Sun” đều là những nhãn hiệu dẫn đầu.
Chrysler là công ty giới thiệu loại xe chở khách cỡ nhỏ đầu tiên. Ngày nay, hãng Chrysler có được 10% thị trường ôtô và 50% thị trường loại xe chở khách cỡ nhỏ. Vậy thì sự cần thiết cho thị trường xe ôtô là làm ra xe tốt hơn hay chiếm lĩnh thị trường trước tiên?
Công ty máy vi tính Hewlett-Packard là công ty đầu tiên giới thiệu máy in laser. Ngày nay công ty có được 5% thị trường máy vi tính cá nhân và 45% thị trường máy in laser.
Gillette là công ty giới thiệu lưỡi dao cạo an toàn đầu tiên. Tide là hãng bột giặt quần áo đầu tiên. Hayes là công ty đầu tiên về máy nối mạng vi tính. Tất cả đều dẫn đầu.
Một lý do khiến nhãn hiệu đầu tiên có khuynh hướng duy trì được vị trí dẫn đầu vì tên nhãn hiệu thường trở thành tên chung cho cả loại.
Xerox là máy sao chụp sử dụng loại giấy thường đầu tiên và đã trở thành tên gọi của tất cả các loại máy photocopy bằng giấy thường. Người ta sẽ đứng trước loại máy photocopy hiệu Ricoh, Sharp hay Kodak và nói:
“làm thế nào dể tôi có được một bản Xerox?” Họ sẽ hỏi “Kleenex” trong khi ngoài bìa của hộp khăn giấy in rõ ràng chữ Scott. Họ cũng sẽ mời bạn uống Coke trong khi họ chỉ có Pepsi-Cola.
Có bao nhiêu người hỏi mua băng dán cellophane thay vì hỏi băng “Scotch”? Không nhiều lắm. Hầu hết người ta dùng tên thương hiệu khi nó trở thành tên dùng chung: BandAid, Fiberglas, Formica, Gore-Tex, Jello, Krazy, Glue, Q-tips, Saran Wrap, Velcro… Đó chỉ là một phần nhỏ. Một vài người sẽ lấy tên dài để đổi tên nhãn hiệu thành tên chung. “FedEx gói hàng này đi vùng ven bờ biển”.
Nếu bạn đang giới thiệu nhãn hiệu đầu tiên của một mặt hàng (chủng loại) mới, bạn hãy cố gắng chọn một tên có thể trở thành tên chung cho cả loại. (Các luật sư thường cố vấn ngược lại, nhưng họ biết gì về các điều luật của thị trường?).
Thường thường, không phải chỉ có nhãn hiệu đầu tiên mới trở nên dẫn đầu, nhưng thứ tự doanh thu của các nhãn hiệu thường phù hợp với vị trí của nhãn hiệu đó.
Ví dụ hay nhất là thuốc ibuprofen. Nhãn hiệu Advil đứng thứ nhất, Nuprin thứ nhì, Medipren thứ ba. Thứ tự doanh thu mà họ đang hưởng cũng đúng y hệt vậy: Advil được 51% thị trường, ibuprofen, Nuprin 10% và Medipren 1%.
Nhãn hiệu thứ tư tham gia vào thị trường là Motrin IB. Mặc dù có được một công thức ibuprofen hữu hiệu, nhãn hiệu Motrin cũng chỉ chia sẻ được 15% thị trường. Hãy nhớ rằng Advil cũng giới thiệu cùng một công thức như Motrin.
Và cũng cần ghi nhận rằng Advil trở thành tên chung thay thế. Người tiêu dùng sử dụng Advil như là một danh từ chung, hiếm khi nào họ dùng từ ibuprofen. Ngay cả các bác sĩ y khoa sẽ nói với bệnh nhân: “Hãy uống hai viên “Advil” và sáng mai gặp tôi”.
Thuốc Tylenol cũng vậy. Là nhãn hiệu đầu tiên của acetaminophen. Tylenol đã bỏ xa nhãn hiệu đứng thứ hai đến mức khó mà biết được đứng thứ hai là nhãn hiệu nào. Nếu bí mật của sự thành công là đi vào trí nhớ của các khách hàng tương lai, thì chiến lược nào được hầu hết các công ty quyết tâm theo đuổi?
Chiến lược sản phẩm tốt hơn. Đề tài mới nhất và nóng bỏng nhất trong lĩnh vực quản trị kinh doanh là tiêu chuẩn.
Tiêu chuẩn đã được nâng lên như là: “Chiến lược cạnh tranh độc nhất”; tiêu chuẩn được coi là công cụ để so sánh và đánh giá sản phẩm công ty của bạn với sản phẩm tốt nhất trong công nghiệp; nó được nói tới như là nhân tố thiết yếu trong một tiến trình thường được gọi là “quản trị tổng hợp chất lượng”.
Thật không may, chiến lược tiêu chuẩn đã không thành công. Thực tế người ta cảm nhận sản phẩm đầu tiên lọt vào trí nhớ là sản phẩm tốt nhất: Marketing là cuộc chiến của sự nhận thức hay định vị thương hiệu, không phải là của sản phẩm.
Những tên nhãn hiệu đầu tiên của aspirin, của acetaminophen, của ibuprofen là gì ? (gợi ý: Hãy thay thế từ “đầu tiên” bằng từ “dẫn đầu” và bạn sẽ có câu trả lời cho câu hỏi này).
Charles Schwab tự coi mình là “Người môi giới mua bán cổ phần lớn nhất ở Mỹ”. Bạn có ngạc nhiên không khi biết Charles Lindlbergh của ngành kinh doanh mua bán cổ phần lại chính là Charles Schwab.
Neil Amstrong là người đầu tiên đi bộ trên mặt trăng. Ai là người thứ nhì?
Roger Bannister là người đầu tiên chạy một dặm (1,6km) trong 4 phút. Ai là người thứ nhì?
GeorgeWashington là vị Tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Ai là vị Tổng thống thứ hai?
Thomas’ là nhãn hiệu đầu tiên của Loại bánh mì English muffin. Nhãn hiệu thứ hai là gì?
Gatorade là nhãn hiệu đầu tiên của thức uống trong thể thao. Thứ nhì là gì?
Nếu bạn ở vị trí thứ hai trong trí nhớ của các khách hàng tiềm năng, bạn có thể tránh được sự lãng quên như đã xảy ra với Buzz Aldrin, John Landy, John Adams, các loại bánh English muffin vô danh hay không? Không nhất thiết là như vậy, may mắn thay, còn có những điều luật khác nữa.
Tham gia Cộng đồng We’re Marketer để thảo luận các chủ đề về Marketing và Business tại: Link
Việc thu tiền trước của người dùng cũng là một hình thức huy động vốn. Khi startup phá sản, người dùng mất tiền, quản lý Nhà nước sẽ ứng xử ra sao với sự phát triển chóng mặt của nhiều mô hình kinh doanh khác nhau? “Không nên để những tiếng nói sáng tạo lấn át tiếng nói bùng nổ của thị trường và niềm tin của người dùng cho công ty khởi nghiệp”, cựu CEO Facebook Việt Nam Lê Diệp Kiều Trang nói.
Buổi tọa đàm trực tuyến “Rủi ro bong bóng khởi nghiệp Việt Nam” được VnExpress tổ chức trong bối cảnh WeFit – một startup sáng giá trong lĩnh vực Fitness và Beauty của Việt Nam vừa tuyên bố phá sản.
Với chuyện vỡ bong bóng startup và ví dụ cụ thể là sự việc của WeFit, cựu CEO Facebook Việt Nam Lê Diệp Kiều Trang cho rằng việc nên chú trọng và quan tâm hơn là ảnh hưởng của hiện tượng đó lên thị trường.
“Lấy trường hợp WeFit, từ góc nhìn của riêng tôi, tôi nghĩ điều đáng lo nhất là việc một công ty startup như vậy đã huy động vốn từ người dùng. Và khi họ phá sản, người dùng bị mất tiền“, bà Trang nói.
Khi một công ty khởi nghiệp thất bại, việc nhà đầu tư mất tiền là chuyện dĩ nhiên. Khi nhà đầu tư tham gia rót vốn, họ đã biết có thể thắng, có thể thua.
Với chính công ty startup, việc thất bại cũng là chuyện thường khi trong câu chuyện khởi nghiệp vốn tỷ lệ thất bại nhiều hơn là tỷ lệ thành công.
Mô hình tương tự, nhưng ClassPass chỉ bán gói tập với thời hạn 1 tháng, còn các gói tập của WeFit thời hạn lên tới 18 tháng
“Nhưng người dùng, khi mua một sản phẩm mà sau này tự dưng bất đắc dĩ mất tiền, tôi nghĩ đó là điều rất đáng quan tâm, đặc biệt đối với sự quản lý nền kinh tế. Câu hỏi quay lại là quản lý Nhà nước sẽ can thiệp thế nào với sự phát triển chóng mặt của nhiều mô hình kinh doanh khác nhau”.
“Một mặt, cơ quan quản lý cũng muốn tạo điều kiện cho sự sáng tạo, và sự sáng tạo ở đây không chỉ về công nghệ mà còn trong mô hình kinh doanh. Một mặt, cơ quan quản lý Nhà nước là đơn vị duy nhất có thể giữ sự bình ổn cho thị trường này, và không nên để những tiếng nói sáng tạo lấn át tiếng nói bùng nổ của thị trường và sự an toàn, niềm tin của người dùng cho công ty khởi nghiệp“, Trang nhận định.
Nhà sáng lập Alabaster cho rằng đó là vấn đề đáng quan tâm hơn cả. Còn việc thành công thất bại với startup là chuyện bình thường, miễn người khởi nghiệp đó không trục lợi. Người trục lợi sẽ rất đáng lên án. Nhưng còn nếu họ làm hết sức, thì trong đầu tư, thắng thua là chuyện bình thường.
Phản đối đề xuất cơ quan quản lý Nhà nước can thiệp vào startup, ông Trần Bằng Việt – Chủ tịch Liên đoàn các nhà lãnh đạo và doanh nhân trẻ toàn cầu tại Việt Nam (JCI Vietnam) – cho rằng nếu Nhà nước và chính phủ các quốc gia can thiệp, tác động vào có thể sẽ giết chết sự sáng tạo.
“Mục đích của chính quyền và những người làm chính quyền tốt là giữ mọi thứ vận hành như bình thường, không có gì bất thường là thành công. Khởi nghiệp là sáng tạo, mạo hiểm, phá vỡ những cái đang có”.
“Một hệ sinh thái khởi nghiệp không chỉ cần Nhà nước, những vườn ươm, tăng tốc, không chỉ cần các bạn khởi nghiệp, mà còn cần công chúng và những người dùng thông minh phù hợp với nó. Trong câu chuyện vừa rồi của WeFit, có thể người dùng mất một số tiền nào đấy, cũng không đến nỗi dùng ví dụ đó yêu cầu Nhà nước can thiệp. Tôi không khuyến khích điều đấy, nên để thị trường tự điều tiết“, ông Trần Bằng Việt nói.
Giữ nguyên luận điểm của mình, bà Lê Diệp Kiều Trang cho rằng không có nền kinh tế nào có quyền tự do 100% thuộc về bàn tay vô hình. Trong câu chuyện WeFit, bà Trang cho rằng chúng ta đặt vấn đề phải có quy định trong việc huy động vốn. Vậy quy định nào trong việc thanh toán trước, trong khi việc thanh toán trước như vậy cũng là một hình thức huy động vốn.
WeFit, mặc dù mô hình vận hành trong lĩnh vực Fitness tương tự như ClassPass đặt tại New York, cung cấp “một bữa buffet” không giới hạn cho tất cả người dùng và trả tiền theo lượt cho các đối tác phòng tập. Nhưng trong khi ClassPass chỉ bán gói tập với thời hạn 1 tháng, các gói tập của WeFit đa dạng về thời hạn và gói tập được mua nhiều lên tới 18 tháng.
“Không có việc cấm trả trước, nhưng việc trả trước như vậy phải có những nấc nhất định là anh được quyền huy động đến bao nhiêu? Anh phải có quy định như thế nào mới được huy động như vậy. Tại sao các nền kinh tế coi trọng vấn đề này? Vì sáng tạo không dừng lại ở công nghệ, mà có thể lấn sân sang các công cụ quản lý khác trong nền kinh tế như Money Supply – nguồn cung về tiền, và cái này sẽ rất ảnh hưởng lớn nếu nói về fintech”.
“Với fintech, không thể nào nói vì đổi mới sáng tạo mà chúng ta quên đi trách nhiệm của Nhà nước trong việc giữ nền kinh tế bình ổn, đồng tiền bình ổn, chính sách tiền tệ bình ổn cũng như chính sách hối đoái bình ổn. Nếu không, sẽ ảnh hưởng đến tất nền kinh tế mà doanh nghiệp truyền thống sẽ gánh chịu đầu tiên“, bà Trang nói.
Bà Trang cũng nhận định: Câu chuyện của WeFit ngày hôm nay có thể là câu chuyện nhỏ, nhưng nếu để tiếng nói nhân danh sự sáng tạo mà không coi lợi ích chung của cộng đồng thì sự sáng tạo ấy không đúng.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Mỗi chúng ta đều sở hữu những định hướng nghề nghiệp riêng biệt trong cuộc sống. Có người may mắn chọn được việc làm lý tưởng, vừa thỏa đam mê lại giải quyết được vấn đề tài chính.
Một số khác lại bận lòng tìm nơi mình thuộc về, để rồi vì cơm áo gạo tiền mà lựa chọn công việc không mấy yêu thích.
Mỗi sáng thức dậy bạn có cảm thấy hứng khởi với việc đi làm hay không? Trừ lúc nhận lương, những ngày còn lại của bạn trôi qua như thế nào?
Câu trả lời này sẽ cho chúng ta biết được mức độ hứng thú và phù hợp của bạn đối với công việc.
Bên cạnh đó, chúng ta nên thiết lập định hướng nghề nghiệp của mình bằng cách chọn việc ổn lương cao hay việc mình yêu thích? Hãy cùng JobHop tìm hiểu câu trả lời qua bài viết sau đây.
Công việc chiếm 1/3 thời gian mỗi ngày
Mỗi ngày bạn dành trung bình 8 giờ, tương ứng với 1/3 tổng thời gian để làm việc. Hãy tưởng tượng nếu bạn bắt đầu ngày mới với một công việc mình không yêu thích, liệu bạn có thể làm nó trong bao lâu?
Sự nghiệp là kế hoạch lâu dài, nếu bạn nghĩ mình chỉ làm việc này trong đôi ba tháng, con đường bạn đi sẽ ngày càng chông chênh và nhiều chướng ngại.
Khi được làm việc trong sự hứng khởi, thời gian sẽ trôi qua nhanh hơn. Ngược lại, nếu bạn luôn cảm thấy chán chường, lặng lẽ đếm từng giây phút để được về nhà, chuỗi ngày đó sẽ lặp đi lặp lại như một vòng xoay không có hồi kết. Hãy biến công việc thành bữa ăn ngon, thay vì những bát cơm vội vàng chóng đói qua ngày.
Định hướng nghề nghiệp của bạn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và chất lượng công việc. Một số vị trí sẽ mang đến cho bạn nguồn thu nhập ổn định, nhưng mọi việc sẽ khác nếu bạn không đủ yêu thích những gì mình làm.
Lúc này bạn sẽ cảm thấy những khó khăn, thử thách trong công việc đều quá sức chấp nhận và không đáng để mình phải “hy sinh”.
Lương khởi điểm ban đầu là một yếu tố ngắn hạn, khi được làm việc đúng với đam mê của mình sẽ giống như cá gặp nước, sự nghiệp thăng tiến nhanh chóng đồng nghĩa với mức thu nhập cũng sẽ được tăng theo.
Tuy nhiên, bạn cần làm rõ giữa sở thích và thế mạnh. Sẽ có những việc bạn rất hứng thú nhưng lại không đủ khả năng để thực hiện.
Chẳng hạn như bạn đam mê xê dịch nhưng sức khỏe không cho phép, hoặc bạn yêu thích viết lách nhưng điều đó vẫn chưa đủ để bạn trở thành một nhà văn giỏi.
Khả năng phát triển công việc
Ngoài tiền lương hàng tháng, điều gì giữ chân bạn với công việc hiện tại? Bạn có muốn tiếp tục học hỏi và phát triển bản thân trong công việc không?
Hãy thử tưởng tượng giữa một việc bạn yêu thích và một việc bạn làm để được nhận thu nhập hàng tháng, vị trí nào sẽ có khả năng thúc đẩy cố gắng phát triển sự nghiệp nhanh chóng hơn?
Dù công việc lúc đầu có “ngon lành” đến mấy, khi không thật sự đam mê, bạn sẽ dần cảm thấy không mấy hài lòng với sự trì trệ của chính mình và mất đi tinh thần chiến đấu. Vì thế nên đừng khiến bản thân trở thành một nhân viên “đúng giờ đến, hết giờ đi” nơi công sở nhé.
Nguồn động lực để đi làm mỗi ngày
Một công việc ổn định với mức thu nhập như mong muốn chỉ có khả năng hấp dẫn bạn ở thời điểm ban đầu. Sau đó, mọi thứ vẫn tiếp tục bình lặng trôi qua, bạn không thật sự đạt được mục tiêu gì trong công việc cũng như không có cơ hội thể hiện bản thân.
Đây chắc hẳn không phải là điều mà bạn mong muốn. Do đó, hãy vạch ra định hướng nghề nghiệp ngay từ ban đầu và chọn cho mình một công việc yêu thích để mỗi ngày đều tràn đầy những trải nghiệm thú vị.
Bạn có thuộc về nơi này không?
Môi trường làm việc và văn hóa công ty là hai yếu tố quan trọng tác động đến sự yêu thích của bạn đối với công việc.
Một môi trường tích cực sẽ giúp nhân viên cảm thấy hứng thú và duy trì động lực suốt ngày dài. Nếu bạn đang trong quá trình tìm kiếm việc làm, đánh giá tổng quan văn hóa công sở nơi ứng tuyển là một trong những điều không nên bỏ sót.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Hệ thống phòng tập này hiện mới chỉ có ở TPHCM chứ chưa triển khai tại các địa phương khác.
Vụ việc WeFit (sau này đổi tên thành WeWow) tuyên bố phá sản đã làm nhiều khách hàng hoang mang khi họ vẫn còn quyền lợi tập luyện tại các phòng gym và spa. Tuy nhiên, trong một thông báo gần đây gửi tới khách hàng, WeFit cho biết họ đã nhận được sự hỗ trợ từ Citigym.
Cụ thể, với chương trình này, khách hàng WeFit sẽ được chuyển sang sử dụng Citigym với các gói tập toàn thời gian, tại tất cả các lớp mà không mất bất kỳ chi phí chuyển đổi nào. Thời gian đăng ký chuyển đổi sẽ diễn ra từ nay đến hết 24/5.
Trên trang Fanpage chính thức của mình, Citigym cũng đã xác nhận thông tin về gói hỗ trợ dành cho hội viên WeFit.
“Sau khi trao đổi với Wefit và đi đến thống nhất, Citigym là đơn vị chính thức duy nhất tại TP HCM hỗ trợ chuyển đổi toàn bộ khách hàng của WeFit. Khi thực hiện chuyển đổi, người dùng WeFit sẽ được bảo toàn toàn thời hạn của họ tại WeFit, hoàn toàn miễn phí và đặc biệt không phải mua thêm gói tập nào khác”, Citigym viết.
Hiện tại, Citigym là hệ thống phòng gym gồm 6 câu lạc bộ và từng là đối tác chiến lược của WeFit từ năm 2018. Tuy nhiên hệ thống phòng tập của Citigym nằm tại khu vực TP HCM, do đó quyền lợi với các cựu khách hàng WeFit tại Hà Nội và những tỉnh thành khác sẽ được giải quyết thế nào vẫn còn là câu hỏi lớn.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link
Khi nói đến các triết lý sống hay định hướng để sống một cuộc sống trọn vẹn và có ý nghĩa nhất, ikigai của người Nhật là một trong những triết lý phổ biến nhất. Vậy Ikigai là gì? Đã bao giờ bạn tự hỏi: Bạn thức dậy mỗi sáng để làm gì? Mục đích cuộc sống của bạn là gì? Liệu bạn có đang hạnh phúc với cuộc sống hiện tại? Đây là những câu hỏi mà người người đều muốn khám phá. Thậm chí có người dành cả cuộc đời để tìm đáp án cho câu hỏi này. Triết lý Ikigai là thứ sẽ giúp bạn trả lời hết tất cả các băn khoăn này. Hãy cùng tìm hiểu tất cả các câu hỏi trên qua bài viết này.
Triết lý ikigai là gì? Tại sao người Nhật dùng Ikigai để sống hạnh phúc hơn
1. Ikigai là gì?
Triết lý Ikigai có nguồn gốc từ xứ sở hoa anh đào Nhật Bản. Đây là quốc gia có dân số già nhất thế giới. Triết lý Ikigai giúp bạn tìm ra mục đích sống của cuộc đời mình.
Ikigai là thuật ngữ được ghép từ “ikiru” (sống) và “kai” (thấy được hy vọng). Ikigai là khái niệm với ý nghĩa là “tìm kiếm mục đích sống của đời bạn” hoặc “tìm ra lý do để bạn thức dậy mỗi sáng”. Đó là “reason to live” của mỗi người.
Trong mỗi chúng ta đều có một Ikigai ẩn. Chỉ khi khám phá ra chúng thì chúng ta mới thực sự hạnh phúc.
Ikigai là chiếc chìa khóa giúp bạn làm việc không mệt mỏi và tìm ra được ý nghĩa thực sự của cuộc sống. “Ikigai là kim chỉ nam của hành động tích cực giúp ta hướng đến tương lai dù đang trải qua những việc không vui của hiện tại” – nhà tâm lý học Mieko Kamiya.
2. Bốn yếu tố tạo ra Ikigai của người Nhật.
Cần trả lời 4 câu hỏi:
Bạn yêu thích, đam mê điều gì?
Được làm việc mà mình yêu thích thì bạn mới hào hứng để thực hiện nó mỗi ngày. Có như thế thì bạn mới có đủ động lực theo đuổi và phát triển nó. Bởi vì: “Công việc yêu thích-đó là sở thích được trả nhiều tiền!” – nhà vô địch cuộc đua công thức 1 Eddie Irwin.
Bạn giỏi lĩnh vực nào?
Cần tìm ra lĩnh vực mà bạn giỏi nhất là gì. Việc đó giúp bạn khẳng định giá trị của chính mình. Được làm việc mình giỏi nhất và thành thạo giúp bạn có hứng thú hơn. Thường thì nếu bạn yêu thích điều gì đó thì cơ hội để bạn làm nó tốt sẽ cao hơn rất nhiều.
Thế giới cần gì từ bạn? Xã hội cần gì ở bạn?
Hãy khám phá ra để tìm được thứ mà thế giới đang thực sự cần ở bạn.
Bạn có thể kiếm tiền từ việc gì?
Tiền bạc giúp bạn duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tiền bạc giúp bạn theo đuổi đam mê của chính mình. Vậy liệu bạn có thể kiếm tiền từ việc gì? Ikigai chính là trung tâm giao thoa của 4 câu hỏi này.
3. Làm thế nào để có được tinh thần Ikigai của người Nhật?
Lắng nghe cơ thể vào mỗi sáng.
Mỗi sáng thức dậy, cơ thể bạn còn uể oải, chưa kịp tỉnh giấc. Hãy lắng nghe cơ thể bạn thực sự cần gì? Điều bạn cần chính là một sự vận động nhẹ nhàng giúp kéo bạn ra khỏi cơn lười nhác và chiếc giường ấm áp.
Một vài cái vươn vai, vài động tác yoga đơn giản hoặc vài bài tập khởi động là lựa chọn thích hợp dành cho bạn.
Những bài tập dẻo dai mỗi sáng chính là thói quen để khởi động ngày mới của người Nhật. Được làm việc mình thích vào mỗi sáng giúp bạn vui vẻ, thoải mái và tràn đầy năng lượng tự nhiên hơn.
Ăn sáng theo sở thích.
Bữa sáng chính là bữa ăn quan trọng nhất trong một ngày. Bữa sáng giúp cung cấp năng lượng cho ngày dài làm việc.
Tuy nhiên, cuộc sống bận rộn thường khiến chúng ta bỏ bữa sáng. Một bữa sáng ngon miệng chính là một trong những lý do thôi thúc bạn thức dậy mỗi sớm mai. Cần chọn ra thực đơn theo ý thích của bạn.
Dĩ nhiên, bữa sáng cũng cần đầy đủ dinh dưỡng và phù hợp với khẩu vị riêng. Bạn đã chuẩn bị một bữa sáng ngon lành từ tối hôm trước thì liệu sáng hôm sau bạn có thể tiếp tục ngủ nướng để kệ chiếc bụng rỗng của mình?
Gặp gỡ, trò chuyện cùng bạn bè.
Deadline dồn dập, mọi người thường bỏ qua những buổi face-to-face, gặp gỡ bạn bè. Bạn đi làm ngay sau khi thức giấc, dành 8 tiếng trên văn phòng.
Nghỉ làm, bạn trở về nhà ăn uống và ngủ nghỉ. Thời gian cho các mối quan hệ dần bị rút bớt.
Vòng luẩn quẩn này khiến cơ thể bạn mất cân bằng. Và bạn đang thiếu động lực để bắt đầu một ngày làm việc mệt mỏi?
Thức dậy mỗi sáng để gặp gỡ bạn bè, thưởng thức ly sữa hay ly cà phê nóng là ý tưởng tuyệt vời để khởi động bữa sáng của bạn. Theo một cuộc thăm dò năm 2008 của Gallop, người Mỹ hạnh phúc nhất khi dành khoảng 6-7 tiếng để giao tiếp với mọi người xung quanh.
Theo một nghiên cứu dài 7 năm được thực hiện với hơn 43.000 người thì những người “có Ikigai” có tuổi thọ cao hơn rất nhiều.
Như vậy, triết lý Ikigai của người Nhật là động lực để một người làm việc một cách hạnh phúc. Đây chính là bước tiến tích cực giúp xã hội phát triển. Hãy để mỗi sớm mai thức dậy, bạn biết mình đang sống vì điều gì!
Vòng tròn Ikigai là gì?
Vòng tròn ikigai (như hình ảnh ở trên) đơn giản là hình ảnh hay mô hình thể hiện các yếu tố có trong triết lý ikigai. Điểm tâm của vòng tròn chính là nơi giao nhau giữa đam mê, nhu cầu, tình yêu và hơn thế nữa.
Tham gia Cộng đồng Marketing của MarketingTrips tại: Link